skip to Main Content
Hình ảnh Sâu Róm đỏ

Sâu bệnh hại bơ và biện pháp phòng tránh

Sâu bệnh hại bơ là một hiểm họa không thể tránh khỏi với những tín đồ của bơ. Trên bơ, phần bị hại nặng nhất không gì khác chính là trái khiến giá trị thương phẩm bị giảm xuống nghiêm trọng. Vậy phải làm sao để có thể loại bỏ những “cái miệng” chỉ biết phá hoại kia ra khỏi vườn ươm bơ đây. Đọc bài viết dưới đây là sẽ biết một số loài sâu bệnh hại phổ biến chuyên hại bơ để có các biện pháp phòng tránh kịp thời nha bạn đọc. Lưu ý đây là những kiến thức tổng hợp, nên sẽ có thiếu sót, kính mong bạn đọc góp ý thêm để cải thiện bài viết.

A. MỘT SỐ LOÀI SÂU HẠI PHỔ BIẾN TRÊN CÂY BƠ

1. The Polyphagous Shot Hole Borer ( PSHB ) – Euwallacea sp. (!)

a. Đặc điểm gây hại

Mọt đục cành PSHB – Euwallacea sp. ( đồng nghĩa Euwallacea nr. Fornicatus Eichhoff hay Xyleborus fronicatus Eichhoff ) thuộc phân họ Scolytinae của bộ Coleoptera, là một thế lực sâu bệnh nguy hiểm gây hại mạnh trên nhiều cây gỗ bản địa và cây bụi ở miền nam California, đặc biệt là trên cây bơ. Sau khi hạ cánh được lên trên một cây thích hợp. Mọt ( thành trùng ) đục vào mặt dưới của cành bằng một lổ nhỏ ( ~ 1mm), xâm nhập vào giữa, đào thành một hầm ngầm, và bắt đầu đẻ trứng. Mỗi con cái có thể đẻ khoảng 30 – 50 trứng vào đó. Sâu non phát triển ở thành vách của hầm ngầm. Mọt non ( ấu trùng ) tiếp tục đục khoét, sinh sôi và lây lan. Trong quá trình đào hầm, mọt giải phóng các ổ bào tử của một số loài nấm cộng sinh “mycangia” trong cơ thể ( trong đó có loại nấm Fusarium euwallaceae, Graphium euwallaceae, Acremonium pembeum ). Nấm xâm nhập và làm hư hại các mạch gỗ ( xylem ) – là con đường vận chuyển nước từ rễ lên lá, chuyển hóa thành chất dinh dưỡng làm thức ăn cho mọt. Phần đường hầm do mọt đào sẽ chuyển màu nâu đen và có dấu hiệu bị ẩm mốc trầm trọng. Cành bị hại có biểu hiện khá rõ rệt, lá có màu nâu sẫm và bị héo rũ nhanh chóng, rồi chết khô trên cây. Bẻ cành xuống, chẻ đôi thấy một đoạn cành đã bị mọt đục rỗng ở giữa. 

Vòng đời của mọt đục cành kéo dài từ 30 – 35 ngày. Chúng phát triển mạnh trong mùa khô, vào chủ yếu các tháng 3 – 6. Theo thống kê mọt đục cành Euwallacea sp. gây hại trên 110 loài cây trồng. Ở Việt Nam gây hại chủ yếu trên cây bơ, sầu riêng, ca cao, chè, …

Trứng mọt màu trắng, kích thước rộng 0,3mm và dài 0,5mm. Các giai đoạn chưa trưởng thành ( gồm ấu trùng và nhộng ) có màu trắng  Con trưởng thành có hình bầu dục và màu sắc từ nâu đến đen. Trưởng thành cái dài khoảng 2,62 ( ± 0,02 ) mm và rộng 1,07 ( ± 0,02 ) mm chiếm số lượng lớn trong bầy trong khi con đực trưởng thành đực nhỏ hơn, dài khoảng 1,80 ( ± 0,02 ) mm và rộng 0,81 ( ± 0,02 ) mm. Con đực hiếm khi được quan sát thấy vì chúng không thể bay, ít khi ra khỏi hầm và chiếm sô lượng rất ít. 

Hình ảnh một đục cành

Hình ảnh một đục cành

Hình ảnh mọt đục cành nhìn từ trên xuống

Hình ảnh mọt đục cành nhìn từ trên xuống

Mọt trưởng thành màu nâu

Mọt trưởng thành màu nâu

Một trưởng thành màu nâu nhìn từ trên xuống

Vòng đời mọt đục cành

Vòng đời mọt đục cành

PSHB gây hại trong thân

Mọt đục cành Euwallacea sp. và nấm cộng sinh

Tác hại của mọt đục cành và nấm cộng sinh

Chỗ thân bị PSHB hại

b. Phòng trừ mọt Euwallacea sp. tấn công

Mọt trưởng thành sau khi vũ hóa thì chỉ vài giờ sau đã đục vào trong cành Bơ và khi đã chui vào trong rồi thì việc phun thuốc sẽ kém hiệu quả, vì vậy khi cần phòng trừ mọt đục cành bà con cần lưu ý một số điểm sau đây:

  1. Vệ sinh vườn, tỉa cành thông thoáng, cắt và đốt bỏ cành, thân cây bị mọt hại nặng đem đi tiêu hủy.
  2. Phát hiện sớm theo các vết đục còn mới, bơm thuốc Thiamax 25WG, Carbosan 25EC vào thân cây vùng bị hại để diệt trừ mọt.
  3. Quét gốc và thân chính bằng Norshiled vào cuối mùa mưa.
  4. Thường xuyên theo dõi và kiểm tra mọt trong cuối mưa – đầu mùa khô.

2. Bọ xít muỗi ( Helopeltis sp. ) (!!)

a. Đặc điểm hình thái và tập tính gây hại

Bọ xít muỗi hay bọ muỗi ( danh pháp khoa học Helopeltis spp ) thuộc bộ cánh nửa Hemiptera, họ Miridae, là loài đa thực, gây hại trên nhiều loại cây trồng. Bọ xít muỗi có một cột sống đặc trưng trên ổ bụng và có sự khác biệt về màu sắc giữa các loài ( H. theivora có màu xanh lá cây, H. antonii có màu nâu đỏ). Nhìn hình dưới để biết thêm chi tiết.

Hình ảnh cho H. theivora

Hình ảnh H. antonii

Vòng đời của bọ xít muỗi

Tác hại của bọ xít muỗi

Về tập tính, Bọ xít muỗi dùng vòi chích xuyên qua các lớp mô thực vật, nước bọt của chúng rất độc, gây ra các vết hoại tử trên lá non, cành, trái non, tạo thành các vết sẹo màu đen trên lá và trên trái, gây biến dạng trái, gây chết chồi, cành cây hoặc là toàn bộ cây. Thường chúng sẽ xuất hiện chích hút nhựa vào sáng sớm và chiều mát, những ngày âm u thì có thể hoạt động cả ngày, gây hại bắt đầu từ đầu mùa mưa đến cuối mùa mưa, là giai đoạn cây tập trung đâm chồi, lá non và ra hoa kết trái.

Vòng đời bọ xít muỗi từ từ 27 – 42 ngày tuỳ vào điều kiện thời tiết. Bọ xít muỗi trưởng thành có thể sống trong vài tuần; chiều dài thân được xác định từ 6,5 đến 8,5mm, có gai nhọn phía giữa ngực, chân dài và mỏng manh giống hệt như chân loài muỗi. Con cái có thể đẻ từ 30 – 50 trứng trong thời gian sống. Trứng có màu trắng, dài khoảng 1mm, được đẻ rải rác hoặc thành cụm trên thân, cuống lá non, hoặc các bộ phận đang trong quá trình phát triển khác của cây, trứng sẽ nở sau một tuần. Ấu trùng có hình thái trông giống thành trùng, di chuyển rất nhanh, khi có động chúng thường trốn xuống mặt dưới của lá hoặc thả mình rơi xuống đất để trốn, thường cư trú trong những cây, bụi rậm xung quanh vườn. Ấu trùng trải qua 5 tuổi với tổng thời gian là 10 – 16 ngày.

b. Biện pháp phòng trừ bọ xít muỗi

1. Đất có hàm lượng Kali cao, có acid Photphoric, thường ít thấy bọ xít muỗi tấn công. Nên tăng cường bón phân có chứa Lân và Kali.

2. Tỉa cành, tạo tán sau thu hoạch, phát quang bụi rậm, thu gom, tiêu hủy những bộ phận gây hại, bắt ấu trùng bằng tay nếu phát hiện được.

3. Sử dụng những loại nấm, ong ký sinh trứng, ấu trùng để tiêu diệt; nuôi kiến xanh, kiến vàng trong vườn để kiến ăn bọ xít, nhưng phải kiểm soát chặt chẽ vì kiến rất hung hăng, có thể tấn công con người và cả những côn trùng có ích khác; bảo vệ nguồn thiên địch như chim, nhện trong vườn.

4. Vào mùa mưa, bà con nên thăm vườn thường xuyên, khi phát hiện bọ xít muỗi gây hại thì phun vào lúc sáng sớm hay chiều tối bằng Permecide 50EC liều lượng 250 – 300ml/200lít nước. Khi mật số bọ xít muỗi nhiều bà con nên kết hợp Permecide 50EC với một trong các thuốc sau để phun xịt Brightin 1.8EC ( 200ml/200l nước ), Actimax 50WG ( 150g/200l nước ), Thiamax 25WG ( liều lượng 50g/200l nước ). Thông thường phải xử lý vào các thời điểm: khi cây đang ra lá non chuẩn bị ra hoa, khi chồi hoa mới nhú và khi đậu trái non, mỗi đợt phun 1 – 2 lần cách nhau 7 – 10 ngày.

3. Nhện Persea mite 

a. Đặc tính gây hại

Oligonychus là một chi của bọ ve bét nằm trong họ Tetranychidae. Nhiều thành viên của chi này là loài gây hại quen thuộc trên thực vật. Hiện có khoảng 200 loài được các nhà khoa học mô tả. trong đó có loài nhện Persea mite hay nhện ve ( Oligonychus perseae ) thuộc họ Nhện chăng tơ Tetranychidae nằm trong siêu họ Tetranychoidea của phân loài Prostigmata.

Hình ảnh cho persea mite

Nhện ve đang đẻ trứng

Loài Oligonychus Perseae có nguồn gốc từ Trung Mỹ ( theo Tuttle et al. 1976 ) khi gây hại trên cây bơ ( Persea americana thuộc họ Nguyệt quế Lauraceae ). Khởi điểm bùng phát dịch là ở Costa Rica ( Cô-x’ta Ri-ca ) ( theo e.g. Salas 1978; Ochoa et al.1991 ), sau đó dần lây lan sang bang Texas của Mỹ thông qua Mexico vào năm 1975. Một số tiểu bang như California, Florida cũng bắt đầu ghi nhận có sự xuất hiện của dịch ( Baker and Tuttle 1994; Aponte and McMurtry 1997a,1997b; Kerguelen and Hoddle 1999 ). Ngoài ra còn thấy xuất hiện ở Israel, ở Tây Ban Nha ( toàn lục địa và Quần đảo Canaria ) khi biến Costa Rica thành quốc gia thuộc địa ( Alcázar et al. 2005; Migeonand Dorkeld 2006 – 2014; EPPO 2014a ) và Bồ Đào Nha ( toàn lục địa và Madeira ). Nhận thấy sự bùng phát mạnh của dịch bệnh, EPPO ( European Plant Protection Organization – Tổ chức bảo vệ thực vật châu Âu ) đã đưa nó vào Alert List năm 2003.

Cây ký chủ: Đa phần là được tìm thấy đang tàn phá trên cây bơ, Ngoài ra cũng gây hại trên một số cây khác như long não, Ceratonia siliqua, nho , đào, hồng, mận , hoa hồng, liễu…

Hình thái học: Trưởng thành cái của Oligonychus perseae có thân hình bầu dục khá rõ nét và thon dài. Con cái và con non có màu vàng hoặc hơi xanh với hai hoặc nhiều đốm sẫm màu trên phần thân sau của cơ thể. Con đực có hình quả lê ( tức thon dần về phía đầu ), màu hơi ửng vàng, có hoặc không có những đốm đen nhỏ. Kích thước của con đực thường nhỏ hơn con cái.

Vòng đời: Vòng đời của Oligonychus perseae sẽ kéo dài từ 2 – 3 tuần ở mức nhiệt độ dao động từ 15oC – 30oC. Mỗi con cái sẽ đẻ 20 – 40 trứng trong suốt cuộc đời của mình, tuổi thọ và khả năng sinh sản của chúng được cải thiện rất đáng kể bởi chú ngụ dưới mặt dưới của lá cây. Ngưỡng thấp nhất cho sự phát triển của nhện được xác định là 8oC và ở khoảng nhiệt độ này thì khả năng sinh sản của nhện sẽ giảm và con non cần khoảng 200 ngày để có thể phát triển hoàn chỉnh. Mùa xuân là mùa thích hợp cho bọ phát triển, cao điểm của dịch là trong mùa hè và giảm dần số lượng vào mùa thu. Khi số lượng quá đông, chúng phân tán sang các lá khác và các cây khác thông qua tiếp xúc với vật chủ.

Vòng đời của nhện ve

Khả năng gây hại: Loài ve này gây hại nghiêm trọng trên cây bơ, chúng sống và kiếm ăn trong các đốm trông như vết hoại tử xuất hiện dọc theo các gân chính ở mặt dưới của lá. Khi các đốm hoại tử này xuất hiện dày đặc thì lá sẽ bị mất màu, héo và sớm rụng. Các đốm màu nâu vàng cũng xuất hiện ở bề mặt lá phía trên. Khi lá bị rụng, Thân và quả của cây trở nên yếu ớt dưới tác động của ánh sắng mặt trời, quả sẽ nhỏ và năng suất giảm.

Nhện Persea Mite gây hại trên lá

Nhện Persea Mite gây hại từ nhẹ đến nặng

Cây bị nhện hại

b. Biện pháp phòng trừ

Sử dụng luân phiên hay hỗn hợp:

  • Brightin (Abamectin) 1.8EC / 4.0 EC
  • Nilmite 550SC (Fenbutatin oxide)
  • Secure 10EC (Chlorfenapyr)

Kết hợp cắt tỉa, vệnh sinh vườn thông thoáng, cưa tiêu hủy cành, cây bị hại nặng.

4. Bọ trĩ hại bơ ( Scirtothrips perseae )

a. Đặc điểm hình thái và đặc tính gây hại

Bọ trĩ hại bơ ( Danh pháp khoa học: Scirtothrips perseae ) là một loài bọ mới được phát hiện thuộc chi Bọ trĩ Scirtothrips nằm trong họ Thripidae. 

Hình ảnh cho Scirtothrips perseae

Cả con đực và con cái đều có cánh. Con trưởng thành nhỏ, dài 1mm chủ yếu là màu vàng. Râu phân đoạn 1 màu trắng, phân đoạn từ 2 – 8 màu nâu nhạt. Lông cứng cũng màu nâu nhạt. 2 đuôi cánh hẹp, cánh trước ở phần giữa thắt lại… Con đực thường nhỏ hơn con cái. Trưởng thành cái đẻ trứng rải rác trong mô lá. Trứng nhỏ mới đẻ màu trắng sữa, gần nở thì có màu vàng nhạt. Bọ trĩ non rất giống thành trùng nhưng không cánh và màu trắng.

Chúng có thể sống đến 20 ngày ( ở mức nhiệt 25oC ) Bọ trĩ hại bơ hoạt động cả ban ngày và ban đêm, ban ngày chúng hoạt động tương đối nhanh nhẹn và khi bị khuấy động chúng thường lẩn tránh rất nhanh sang cây khác. Chúng thường ẩn lấp trong lá non hoặc các chót lá bi quăn do không ưa ánh sáng trực xạ. Khi trời râm mát chúng mới bò ra ngoài. Bọ thường tấn công vào mặt dưới lá non, gần gân lá, chích hút nhựa luyện làm cho lá bị xoắn lại, biến dạng, khô cứng, lật mặt lá lên sẽ thấy dưới mặt lá sẽ xuất hiện nhiều vết cháy. Thiếu lá, búp non sẽ chậm phát triển sau đó khô và chết. Ngoiaf ra cũng thấy bọ trĩ gây hại trên quả, phổ biến nhất là giai đoạn trái còn non ( vừa rụng cánh hoa đến khi trái có đường kính khoảng 4cm ). Trái bơ bị bọ trĩ gây hại, vỏ trái bị da cám giống hệt như triệu chứng nhện gây ra nhưng vết bị hại là một vòng tròn tập trung chung quanh lá đài vì chúng gây hại chủ yếu ở phía dưới lá đài lúc trái còn nhỏ nên khi trái phát triển lớn lên, vết sẹo sẽ lộ rõ. Nếu mật độ cao, bọ trĩ gây hại cả trên những trái lớn, làm giảm giá trị thương phẩm.

Thành trùng: 10 ngày. Nhân đôi mật số: 10 ngày.

Hình thái của bọ trĩ qua từng thời kì

Bọ trĩ gây hại trên từng bộ phận của cây

Bọ trí gây nám trên quả

Quả bơ khi thu hoạch vẫn bị bọ trĩ tấn công

b. Phòng trị bọ trĩ tấn công

Phòng trị: Sử dụng luân phiên hay hỗn hợp:

  • Brightin 1.8 / 4.0 EC (Abamectin)
  • Thiamax 25WG (Thiamethoxam) – Permecide 50EC (Permethrin)
  • CarboSan 25EC (Carbosulfan) – Secure 10EC (Chlorfenapyr)

⇒ Phun sớm vào giai đoạn khi trái non.

5. Rệp sáp Planococcus citri

a. Đặc tính gây hại

Hình ảnh rệp sáp

+ Đây là loài rệp phổ biến nhất. Rệp sáp có hình oval ( tức hình bầu dục ), thuôn dài. Con cái trưởng thành dài khoảng độ từ 2,5 – 4mm, chiều ngang khoảng 0,7 – 3mm. Trên thân có nhiều sợi sáp màu trắng. Nếu gạt lớp bột sáp ra thì thấy cơ thể có màu vàng nhạt. Rệp cái không có cánh, rệp đực tuy nhỏ hơn nhưng có cánh, không có sáp, mắt đen to, râu và chân có nhiều lông ngắn, miệng thoái hóa, không ăn và chỉ giữ nhiệm vụ duy nhất là giao phối. Con đực sống khoảng 27 ngày ( từ khi nở cho đến khi trưởng thành và chết ), còn đối với con cái sống được khoảng 115 ngày. Vòng đời ( từ trứng cho đến khi đẻ trứng ) biến thiên từ 20 – 44 ngày.

– Trứng hình bầu dục nhỏ màu trắng trong, trứng được đẻ thành bọc, và trong bọc thì các trứng xếp chồng lên nhau, phía ngoài bọc có lớp sáp bông trắng bao phủ. Rệp non lúc mới nở có màu xám, nhỏ chỉ bằng con mạt, sau lần lột xác thứ nhất chuyển sang màu hồng nhạt, chưa có sáp trắng bao phủ lên, hoạt động vô cùng nhanh nhẹn. Sau nở khoảng 7 – 10 ngày gần đuôi hình thành hai tua áp dài, sau đó các tua khác dần dần hình thành, trên cơ thể bắt đầu có áp trắng bao phủ và từ đó chúng di chuyển chậm chạp và thường tìm các nơi kín đáo để sinh sống.

– Chúng sinh sống gây hại ở chùm quả, mặt dưới lá, nách lá, cành non và ngay cả ở dưới rễ. Chuyên chích hút nhựa làm chùm quả héo rụng non và tạo điều kiện, môi trường cho nấm muội phát triển làm đen vỏ quả, mặt lá, ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng quang hợp. Rệp sáp có loài kiến cộng sinh bằng cách kiến đen tha rệp từ nơi này sang nơi khác, từ cây này sang cây khác mỗi khi chỗ rệp đang chích hút đã cạn kiệt nhựa. Ngược lại, trong chất bài tiết của rệp có chứa nhiều chất đường mật làm thức ăn cho loài kiến.

Rệp sáp gây hại vùng rễ và tất cả các bộ phận của cây chủ yếu là tán lá và trái. Khi rệp sáp tấn công vùng rễ, nước không thể vận chuyển lên trên dẫn đến việc lá bị héo và vàng úa có thể nhầm với triệu chứng bị khô hạn. Rễ đôi khi bị khảm một lớp mô nấm màu trắng xanh và bị còi cọc.

Rệp sáp phát triển nhiều trong điều kiện thời tiết nóng và ẩm, gây thiệt hại phổ biến trong mùa khô hanh dẫn đến việc cây bị thiếu nước do rệp tập trung phá hại ở phía gốc cây và cuống quả.

Vào cuối mùa mưa chuyển sang mùa khô, rệp sáp phát triển mạnh. Đặc biệt dưới gốc cây có nhiều cỏ rác, lá cây mục tụ ở xung quanh sẽ là môi trường lí tưởng để để kiến trú ngụ mang rệp đi lây lan. Rệp sáp ít di chuyển, phần lớn nhờ vào một số loài kiến tha đi ( kiến hôi, kiến cao cẳng…).

c. Phòng trừ rệp sáp

– Cắt bỏ cành hại nặng

– Phun thuốc diệt trừ rệp sáp:

  • Maxfos 50EC (Chlorpyrifos 50%)
  • Thiamax 25WG (Thiamethoxam 25%)

Để tăng hiệu quả nên thêm ‘nước rửa chén’ để thuốc thấm sâu qua các lớp tơ sáp. Phun lại lần 2 sau 7 – 10 ngày để diệt các rệp non mới nở từ trứng còn sót lại.

6. Sâu róm đỏ

a. Đặc điểm hình thái, sinh vật học sâu róm đỏ

Cricula trifenestrata là loài bướm đêm thuộc họ Saturniidae. Loài này có phổ biến ở Ấn Độ đến Philippines, Sulawesi và Java. Với sải cánh dài 65 – 100 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 5 đến tháng 6 với thế hệ thứ hai từ tháng 8 đến tháng 9. Sâu của loài bướm này được gọi là sâu róm đỏ.

4 giai đoạn của loài Cricula trifenestrata: Trứng, Sâu non, Nhộng, Bướm

– Trứng: Thường núp ở mặt dưới lá. Trứng hình tròn hoặc bầu dục, màu trắng ngà, vàng, kích thước khoảng từ 0,9 – 1 mm.

– Sâu non: Sâu có 5 tuổi, có nhiều màu sắc nhưng chủ yếu là màu vàng nhạt, đỏ, màu đen, màu nâu. Kích thước sâu tuổi lớn có chiều dài từ 20 – 60 mm, thân có nhiều gai, có 10 đốt nối từ đầu tới phần đuôi, phần đuôi phình to, sâu có 7 đôi chân, 4 đôi ở bụng ngắn và phình to, 1 đôi gần đầu ngắn 2 – 3 mm, và 2 đôi còn lại kế tiếp mảnh và dài 10 mm để di chuyển, riêng ở đuôi có 1 đôi râu dài 5 – 7 mm, trên lưng có đường màu trắng chạy dọc từ đầu đến đuôi. Sâu non thường gây hại vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối, trời nắng chúng bò xuống thân hoặc mặt dưới lá để ẩn nấp. Giai đoạn sâu khoảng 12 – 15 ngày, tuỳ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh.

Hình ảnh sâu róm đỏ

Nhộng có màu đen, đỏ, chiều dài 20 – 30 mm. Nhộng cái to hơn ở Nhộng đực, giai đoạn Nhộng đến Bướm kéo dài khoảng 10 – 14 ngày.

Sâu róm đỏ hóa nhộng

– Trưởng thành ( bướm ) có chiều dài từ đầu đến chóp đuôi 30 – 40 mm, Bướm cái to hơn Bướm đực, màu sắc ban đầu mới vũ hoá có màu trắng ngà sau đó vài ngày thì chuyển màu vàng, trên lưng có các chấm đen dọc lưng, bướm cái có màu sắc rực rỡ hơn bướm đực. Giai đoạn bướm khoảng 5 – 7 ngày. Mỗi Bướm cái đẻ khoảng 130 – 150 trứng.

Trưởng thành ( bướm )

b. Triệu chứng gây hại của sâu róm đỏ

Sâu róm đỏ ăn lá và chồi non của cây, nhất là phần lá non và lá bánh tẻ, sâu ăn lá và chỉ chừa lại gân lá. Do có hoạt động ăn khoẻ và sinh sản mạnh, nên mật số tăng lên rất nhanh. Có thể thấy chúng xuất hiện thành từng đàn chứ không phải riêng rẽ từng con một.

Sâu róm đỏ gây hại trên lá

Trong một thời gian ngắn sâu róm đỏ có thể ăn trụi hết lá trên cây điều và cây bơ. Sâu ăn trụi lá làm chết cây con và làm giảm sức tăng trưởng của cây lớn.

Sâu róm đỏ cắn phá bên cạnh cuống lá

Sâu róm đỏ thường chú ngụ bên mặt dưới lá

Có thể dễ dàng tìm thấy sâu trên lá, trên cành hoặc vỏ thân cây. Ban ngày, sâu ẩn núp dưới mặt lá và ít di chuyển. Đêm đến chúng bò ra phá hại sang các cành lá khác.

c. Biện pháp phòng trừ sâu róm đỏ

  • Biện pháp canh tác

– Hàng năm sau khi thu hoạch xong cần tạo tán, tỉa cành thông thoáng để hạn chế trưởng thành đẻ trứng.

– Thường xuyên thăm vườn, kiểm tra và phát hiện sâu kịp thời.

– Vệ sinh vườn sạch sẽ, nếu có điều kiện thả kiến vống vàng, ong mắt đỏ cùng các loại thiên địch ăn sâu.

– Dùng các biện pháp xông khói, dùng lửa đốt lông sâu róm, sâu rụng xuống đất sau đó thu gom và đốt.

– Thu gom các cành lá có ổ trứng và sâu non mới nở đem tiêu hủy.

– Đối với kén dùng phương pháp thu gom đem đốt tiêu diệt.

– Dùng bẫy đèn thu hút sâu trưởng thành ở giai đoạn vũ hoá  rộ vào bẫy để tiêu diệt.

  • Biện pháp hoá học

Khi thấy sâu róm xuất hiện với mật độ ≥5 con/cành thì dùng các loại thuốc hoá học sau để pòng trừ:

Hoạt chất: (Chlorpyrifos Ethyl+ Cypermethrin): Tungcydan 30EC

Hoạt chất: (Lambda –Cyhalothri) : Vovinam 2.5 EC

Hoạt chất: (Permethrin): Tungperin 10EC

Hoạt chất: (Cypermethrin): Cyperan 5 EC

Hoạt chất: (Fipronil) : Tungent 5SC

Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo. Lượng nước thuốc phun 800 lít/ha

Ngoài ra có thể sử dụng loại thuốc : Sectox 100WP liều lượng 2.0kg/ha, Azora 350EC liều lượng 2 lít/ha để phòng trừ. Hai loại thuốc này đã được khảo nghiệm và xử lý chống dịch sâu róm đỏ hại điều tại Lâm Đồng năm 2011.

  • Khi phun thuốc phải theo nguyên tắc “4 đúng” gồm

+ Đúng loại thuốc.

+ Đúng liều lượng: Pha thuốc theo theo đúng liều lượng và phun đủ lượng nước pha theo hướng dẫn.

+ Đúng lúc: Phun khi thấy sâu róm ở tuổi 1-5 chiếm đa số trên cây điều. Cần tiến hành phòng trừ sâu róm đỏ kết thúc trước khi cây điều trổ bông, nếu phun thuốc vào thời kỳ trổ bông sẽ ảnh hưởng đến hoa điều. Hoặc phun vào lúc trời nắng khi sâu róm chui xuống gốc.

+ Đúng cách: Hướng vòi phun lên ngọn điều, trước khi phun nếu có điều kiện cần rung cây điều cho sâu róm rơi xuống đất, xịt dễ trúng sâu róm hơn

––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––ℵψℵ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

MỘT SỐ BỆNH HẠI PHỔ BIẾN TRÊN CÂY BƠ

1. Bệnh thán thư trên cây bơ

a. Nguồn bệnh

Bệnh thán thư cây Bơ do loài nấm Colletotrichum gloeosporioides, là đối tượng hàng đầu gây hại nhiều loài cây trồng có giá trị kinh tế cao như: điều, sầu riêng, xoài, bơ, chanh dây, chuối, …

Hình ảnh cho nấm Colletotrichum gloeosporioides

Hình dạng và kích thước của bào tử: Hình trụ một đầu hẹp lại, một đầu cùn; hình trụ hai đầu cùn; dạng thẳng một đầu hẹp lại một đầu cùn, vùng giữa có dạng “thắt eo”.

Hạch nấm: Màu đen, một số chủng không có hạch nấm.

Màu săc khuẩn lạc: Trắng, hồng, cam, cam xám, xám.

Gai: Dạng thẳng, hơi cong. Màu nâu đậm, đen

Hình dạng và kích thước đĩa áp: Dạng trứng và trứng ngược có nếp nhăn, dạng xẻ thùy. Kích thước: 5 – 20 x 3,75  – 11,25 μm.

Bệnh thán thư tấn công trên cành non, chùm hoa, trái non, trái đang lớn và trái trước khi thu hoạch. Nấm Colletotrichum gloeosporioides không họat động trong mùa khô và chỉ phát sinh khi gặp ẩm độ cao ( >95% ) với nền nhiệt độ dao động từ 25 – 30oC, pH từ 5,8 – 6,5. Mưa nhỏ kéo dài + sương mù dày là điều kiện lý tưởng cho nấm phát triển và lây lan nhanh chóng. Bệnh thán thư sẽ chuyển sang dạng tiềm sinh khi khô hạn và bộc phát lại rất nhanh khi có điều kiện thuận lợi. 

Bệnh thán thư trên cây bơ

Thán thư phát triển nặng trên trái bơ

Thán thư xuất hiện cả trên trái non

 

b. Triệu chứng

  • Nấm thán thư xâm nhiễm trái bơ ở “thể lặn” đến trước thu hoạch, các vết bệnh 2-3mm bắt đầu chuyển màu đen xuất hiện trên vỏ trái, và chỉ với đường kính nhỏ như vậy nên ít khi bị người nông dân chú ý. Nếu không có tác động hay những điều kiện thuận lợi dồn vào thì vết bệnh sẽ chỉ bị một vết nhỏ như vậy chứ không lây lan thêm.
  • Nhưng sau khi thu hoạch, trong điều kiện bảo quản khi trái bắt đầu chín mềm, vết bệnh sẽ bắt đầu phát triển mạnh, các vết bệnh sẽ lớn dần và lõm sâu hơn. Vết bệnh đen thẫm ban đầu sẽ lan dần ra khắp bề mặt vỏ quả, thâm đen vào cả trong phần thịt quả.
  • Khi cắt đôi vết quả tại vết chỗ phát sinh bệnh, vùng lan vào phần thịt quả thường có dạng hình cầu. Phần thịt quả dần dần bị nhũn ra.
  • Khi bệnh phát nặng, bề mặt vỏ quả xuất hiện những khối bào tử nấm có màu tím.

c. Biện pháp phòng trừ

Quy trình phòng trừ bệnh thán thư trên cây bơ

2. Bệnh héo rũ trên cây bơ

a. Nguyên nhân, dấu hiệu của bệnh héo rũ trên cây bơ

– Nguyên nhân: Bệnh héo rũ do chủng nấm Verticilliumalbo albo-atrum gây ra, bệnh thường tấn công phần lá của cây sau đó lan rộng ra các phần còn lại khiến cây chết dần.

Bệnh héo rũ trên cây bơ

– Bệnh có những dấu hiệu nhận biết như sau:

+ Lá bị nhiễm bệnh thường sẽ bị héo, chuyển màu từ màu xanh sang vàng và khi bệnh trở nên nặng hơn lá sẽ bị khô và rụng hàng loạt.

+ Một thời gian sau bệnh sẽ lan rộng ra một phần ở thân hoặc toàn bộ cây, đối với cây nhiễm bệnh khi bóc vỏ cây ra thì phần tiếp giáp giữa vỏ và lõi sẽ thấy xuất hiện những đường sọc màu nâu.

+ Bào tử nấm bệnh thường ẩn nấp kĩ trong lòng đất cho đến khi gặp được điều kiện môi trường thuận lợi chúng sẽ phát sinh và gây bệnh.

+ Cây mắc chứng héo rũ sẽ chết rất nhanh nhưng vài tháng sau đó thì cây sẽ đâm lại chồi non, ở những cành chịu ảnh hưởng ít thì sau khoảng từ một đến hai năm cây sẽ phát triển bình thường tuy nhiên những cây bơ vốn đã mắc bệnh héo rũ thường sẽ không thể đậu quả được.

b. Biện pháp phòng trừ bệnh héo rũ trên cây bơ

– Đất trồng bơ cần được chọn lọc kĩ càng, tránh trồng trực tiếp cây bơ trên các mảnh đất đã có tiền sử nhiễm bệnh bởi vì bào tử nấm vẫn còn sót lại trong lòng đất có thể phát sinh khi bà con nông dân tiến hành trồng bơ.

– Thường xuyên thăm vườn và quan sát để phát hiện và ngăn chặn kịp thời bệnh tránh để bệnh phát triển trên diện rộng. Nếu phát hiện cây bị nhiễm bệnh cần có biện pháp cách ly ra khỏi vườn và cắt bỏ những cành bị nhiễm bệnh.

– Chú ý cần tạo độ thông thoáng cho vườn bơ, thoát nước tốt tránh tình trạng ẩm thấp làm nấm bệnh có điều kiện phát sinh.

– Có thể trồng luân canh hoặc xen canh cây bơ với một số loại cây họ cà để hạn chế nấm phát sinh.

– Sau khi cắt bỏ những cành bị nhiễm bệnh, bà con nông dân nên sử dụng thêm các loại thuốc hóa học như Daconil, Aliette hoặc Anvil để bôi vào vết cắt và phun thuốc theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất để loại trừ bệnh.

3. Bệnh loét và thối thân do Phytophthora citricola

Bệnh lở loét thối thân trên cây bơ khá phổ biến

a. Nguyên nhân và dấu hiệu của bệnh

  • Nguyên nhân gây ra bệnh lở loét thối thân trên cây bơ là do một loại nấm có tên là Phytophthora citricola ( là một loài sinh vật gây bệnh cho cây. Nó được Sawada mô tả tên khoa học lần đầu vào năm 1927 khi được phận lập từ mẫu cây cam tại Đài Loan. Từ đó người ta thấy nó gây bệnh trên rất nhiều loài thực vật khác nhau và được coi là tác nhân gây bệnh thực vật phổ biến ) gây ra. Chúng sống ký sinh và ăn sâu vào bên trong lòng đất.
  • Bệnh thường xuất hiện ở vùng gần mặt đất, đặc biệt trên thân, gốc, cổ rễ của cây và những cành già cho trái hoặc cành thấp có vết thương.  Vết loét ban đầu là một vùng vỏ màu nâu sẫm chảy nhựa đỏ, sau đó chuyển sang nâu, trắng và khi khô có phủ một lớp phấn. Bệnh gây hại nặng nên hệ thống mạch dẫn.
  • Biểu hiện của bệnh không biểu hiện trên lá nhưng khi quan sát kĩ chúng ta sẽ phát hiện được tán lá bị suy giảm do hệ thống mạch gỗ bị hư hại, cành bị suy yếu dần mặc dù cây vẫn có rễ tơ. Khi bệnh đã nặng thì lá cây bắt đầu rụng và cây chết đột ngột.
  • Bơ nhiễm bệnh lở loét thối thân sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất trái. Đặc biệt là trái gần mặt đất thì rất dễ bị loại nấm này tấn công. Trên vỏ quả, vùng bệnh màu đen rất rõ thường xuất hiện phía đuôi quả. Thịt quả bên trong cũng bị hư hỏng theo.

b. Biện pháp phòng trừ

  • Hộ trồng nên vệ sinh vườn cây cho thật sạch sẽ, làm đất kỹ trước khi trồng. Những nơi có đất và nguồn nước bị nhiễm bệnh thì không nên trồng cây.
  • Chọn những giống bơ có khả năng kháng bệnh lở loét và thối thân.
  • Chế độ dinh dưỡng cho cây cần đảm bảo đầy đủ để cây sinh trưởng tốt.
  • Loại bỏ hết những cành nằm sát gốc cùng những cành khô, hệ thống thoát nước trong vườn cần đảm bảo. Trái rụng nên thu gom lại mang đi nơi xa tiêu hủy tránh tạo điều kiện cho nấm gây bệnh kí sinh.
  • Khi cắt tỉa cành tạo tán cho cây bơ cần dùng thuốc hóa học diệt trừ nấm bôi lên các bết thương hở để nấm không có cơ hội xâm nhập và lây lan.
  • Khi phát hiện ra những cành cây bị nhiễm bệnh ngay lập tức cắt loại bỏ chúng đi và sử dụng thuốc diệt trừ nấm Aliette, Agri-fos, Fosphite pha với liều lượng thích hợp để phun diệt trừ.