Bộ sưu tập





Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Thiên niên kiện (danh pháp khoa học là Homalomena occulta (Lour.) Schott) là loài thực vật thuộc họ Ráy Araceae. Đây là loài bản địa của Việt Nam và các tỉnh miền nam Trung Quốc (Quảng Tây, Vân Nam), mọc hoang tại các thung lũng, sườn đồi có độ cao từ 80 – 1.100 m.
Tên thiên niên kiện vì người ta cho rằng uống thuốc này thì nghìn năm khoẻ mạnh (thiên là nghìn, niên là năm, kiện là khoẻ mạnh).
Mô tả cây thiên niên kiện
Cây thiên niên kiện – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Thiên niên kiện là một cây sống lâu năm, có thân rễ mập, màu xanh, đường kính 1 – 2cm. Lá mọc so le, có cuống dài từ 18 đến 25cm, màu xanh, mềm, nhẵn, phía dưới cuống nở rộng thành bẹ có màu vàng nhạt; phiến lá hình đầu mũi tên, dài 11 – 15cm, rộng 7 – 11cm, đầu nhọn, phía dưới hình cánh tên, mép nguyên, mặt trên lá có màu đậm hơn, hai mặt đều nhẵn, gân ở hai mép đều hướng về phía đỉnh lá. Cụm hoa mẫm nở vào tháng 3 – 4. Quả mọng.
Cây thiên niên kiện – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo to, thân rễ dài, mọc bò ngang, thẳng hay cong queo, có nhiều đốt, bẻ ra có xơ cứng, mùi thơm. Lá mọc tập trung ở đầu thân rễ, có thể dài đến 30 cm, rộng 18 cm, thùy bên 6 cm, gốc hình tim sâu, toàn bộ lá nom giống hình tam giác, đầu nhọn, mép nguyên, gân ở gốc có 3 cái ở mỗi bên, tỏa rộng, hướng lên, gân bên mờ ở mặt trên, mỗi bên 7 – 9 cái, cuống lá dài 27 – 50 cm, gốc cuống phình và xoè ra chiếm 1/3 cuống tính từ dưới lên.
Cụm hoa là một bông mo màu lục nhạt, không bao giờ mở rộng, dài 4 – 5 cm, rộng 10 – 15 mm; mỗi khóm thường có 3 – 4 bông mo, cuống bông mo dài 5 – 15 cm; bông ngắn hơn mo, chỉ dài 3 – 4 cm; phần mang hoa cái hình bầu dục chỉ dài bằng một nửa phần mang hoa đực, không có bao hoa, hoa đực có 4 nhị rời, chỉ nhị rất ngắn, bao phấn song song, hoa cái có nhị lép hình khối, dài bằng đầu nhụy, bầu hình trứng, điểm những chấm mờ, noãn nhiều. Quả mọng, thuôn, chứa nhiều hạt có vân. Mùa hoa quả: tháng 4 – 6.
Cây có công dụng tương tự:
Loài Homalomena tonkinensis Engl. và những loài khác mới phát hiện như H. gigantea Engl., H. pierreana Engl. cũng được gọi là thiên niên kiện và được dùng.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây thiên niên kiện – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Thiên niên kiện mọc hoang rất nhiều ở các miền rừng núi của ta. Cây ưa những nơi ẩm ướt, cạnh suối hay dọc theo suối. Ta khai thác quanh năm. Một năm có thể thu mua tới 3.000 tấn.
Hái về rửa sạch đất, bỏ rễ con, phơi hay sấy khô là được.
Cây thiên niên kiện – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Homalomena Schott gồm một số loài thân cỏ, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á và châu Mỹ. Ở khu vực Đông Nam Á, có 7 loài, đều được dùng làm thuốc. Việt Nam có 6 loài, 4 loài được dùng làm thuốc:
H. occulta Schott phân bố khá phổ biến ở các tỉnh vùng núi, cả ở miền Nam lẫn miền Bắc. Độ cao phân bố từ 300 đến 700 m hoặc hơn.
H. gigantea Engl., có tên khác là thiên niên kiện lá to, được phát hiện ở xã Đinh Trang Hòa, Đinh Trang Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; vùng rừng Suối Lạnh thuộc xã Hòa Thịnh, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên và vùng rừng Khe Lét, Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Độ cao phân bố từ 100 đến 600 m, riêng ở Khe Lét đã trên 700 m.
H. pierreana Engl., thần phục hay thiên niên kiện lá hình thìa, mới phát hiện được ở 2 điểm thuộc một số xã của huyện Phước Sơn và Trà My, tỉnh Quảng Nam, ở độ cao 600 – 700 m. Ngoài ra, còn có loài H. cochinchinensis Engl. cùng ở phía nam.
Như vậy, trong số 4 loài trên, loài H. occulta có vùng phân bố rộng nhất. Tất cả đều được khai thác thu mua ở Việt Nam. Trên thế giới, loài thiên niên kiện H. occulta cũng có vùng phân bố rộng, từ các tỉnh Nam Trung Quốc đến các nước trên bán đảo Đông Dương và khu vực Đông Nam Á. Trong khi đó, loài thiên niên kiện lá to chỉ thấy ở Trung Quốc và Việt Nam. Loài có tên là thần phục có thể là đặc hữu hẹp ở Nam Việt Nam.
Thiên niên kiện là cây ưa ẩm và ưa bóng điển hình, thường mọc thành đám, đôi khi thuần loại, dọc theo các bờ khe suối dưới tán rừng kín thường xanh. Cây sinh trưởng phát triển mạnh trong mùa mưa ẩm: mỗi năm mọc ra 3 – 5 lá mới; các lá cũ tồn tại trên một năm mới bị thay thế, đồng thời phần thân rễ cũng phát triển dài thêm từ 3 đến 6 cm. Thiên niên kiện có khả năng sinh chồi gốc khỏe. Trong tự nhiên, cây thường tạo thành khóm với nhiều nhánh thân rễ từ gốc. Cây trưởng thành ra hoa quả hàng năm. Mặc dù số quả trên mỗi bông khá nhiều (10 – 30), nhưng lượng cây con mọc từ hạt ít. Cây trồng được bằng hạt và các đoạn thân rễ.
Thiên niên kiện là cây thuốc quý của Việt Nam, có trữ lượng khá phong phú trong khu vực. Lượng khai thác hằng năm, ước tính từ 200 đến 500 tấn để cung cấp cho nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên do khai thác liên tục nhiều năm, nguồn cây thuốc này đã bị giảm sút nhiều. Mặt khác, nạn phá rừng trầm trọng và triền miên cũng là nguyên nhân làm thu hẹp vùng phân bố tự nhiên của thiên niên kiện.
Để duy trì khai thác lâu dài nguồn cây thuốc quý này, trước hết cần điều tra quy hoạch cụ thể, xây dựng kế hoạch luân chuyển vùng khai thác ở các tỉnh hiện còn tương đối nhiều thiên niên kiện như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, vùng Tây Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và khu vực Tây Nguyên. Khi khai thác, chỉ nên thu dược liệu từ những cây có chiều dài thân rễ trên 30 cm. Chú ý giữ nguyên phần gốc và các nhánh con còn lại cho cây tiếp tục tái sinh. Riêng đối với 2 loài thiên niên kiện lá to và thần phục, cũng cần có kế hoạch điều tra lại trước khi tiếp tục khai thác. Loài thần phục đã từng được đưa vào Danh mục Đỏ cây thuốc (Red list) để lưu ý bảo vệ (Nguyễn Tập, 1996).
Thân rễ cắt thành từng đoạn dài 10 – 27 cm, sấy nhanh ở nhiệt độ dưới 50oC cho khô đều mặt ngoài, làm sạch vỏ và bỏ các rễ con, rồi phơi hoặc sấy ở 50 – 60oC đến khô.
2. Thành phần hoá học
Cây thiên niên kiện – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả và có thể không còn đúng nữa):
Trong thiên niên kiện của ta có từ 0,8 – 1% tinh dầu tính theo rễ khô kiệt.
Theo E. Gildmeister và Fr. Hoffmann, trong rễ tươi của một loài thiên niên kiện Homalomena rubescens có chừng 78 – 81% độ ẩm, 0,8 – 1,2% tinh dầu (cắt theo hơi nước thường) hoặc 0,88 – 1,25% tinh dầu (cất theo hơi nước có áp suất). Như vậy, tính theo rễ khô sẽ lên tới 5%.
Tinh dầu thiên niên kiện có màu vàng nhạt hoặc màu nâu vàng nhạt, mùi thơm dễ chịu.
Tinh dầu có tỷ trọng ở 30oC: 0.8868 (loại 1) hoặc 0,8920 (loại 2), αD(30o)= -14o50 và -9o33, nD(20o)= 1,45908 và 1,4621.
Tan trong 4 thể tích cồn 70o ở nhiệt độ 30oC.
Tỷ lệ aldehyde và xeton 15-20% (định lượng bằng phương pháp bisunfit).
Phản ứng phenol bằng clorua sắt III: Âm tính.
Tìm phản ứng aldehyde bằng dung dịch Fehling: Dương tính.
Trong tinh dầu có chừng 40% linalool, một ít terpineol và chừng 2% este tính theo linalyl acetate; ngoài ra còn sabinene, limonen, α-terpineol, acetaldehyde, propionic aldehyde.
Cây thiên niên kiện – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Thân rễ thiên niên kiện chứa tinh dầu 0,25%, trong đó có α-pinene, β-pinene, limonene, linalool, α-terpineol, nerol, myrcenol và eugenol (Rue Hakai và cs, 1982).
Zhou Chenning và cs. 1991 cho biết tinh dầu thiên niên kiện chứa linalool 36,8%, terpinen-4-ol, cedrenol, saussurea lactone, Δ-cadinol, α-terpineol và moslen.
Theo Alder và Lucius 1963, tinh dầu từ thiên niên kiện có nguồn gốc ở Việt Nam chứa linalool 56,84%, terpinen-4-ol, acetaldehyde, aldehyde propionic, aldehyde butyric, Δ3-carene, sabinene, limonene, α-terpinene, β-terpinene, γ-terpineol, α-terpineol. Theo Trần Văn Sung và cs, 1992, rễ thiên niên kiện chứa (-)-α-cadinol, (-)-T-muurolol, homalomenol C và homalomenol D (CA. 117: 66.614u).
Theo công bố khác của Trần Văn Sung và cs, 1992, rễ thiên niên kiện còn có oplopanone, oplodiol, bullatantriol, homalomenol A, homalomenol B, 1β,4β,7α-trihydroxyeudesmane (CA. 118: 56.146z).
3. Tác dụng dược lý
Cây thiên niên kiện – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Thân rễ thiên niên kiện có tác dụng ức chế yếu phù bàn chân chuột cống trắng gây bằng kaolin, không ảnh hưởng trên u hạt thực nghiệm gây bằng amian, và gây thu teo tuyến ức chuột cống đực non mức độ yếu. Ngoài ra, dược liệu còn có các tác dụng như ức chế sự co thắt cơ trơn ruột chuột lang cô lập gây nên bởi histamin và acetylcholin, gây giãn mạch ngoại biên, và có tác dụng yếu ổn định màng hồng cầu in vitro. Liều chết LD của thiên niên kiện cho chuột nhắt trắng uống là 245 g/kg.
Công dụng của thiên niên kiện
Người ta vẫn hay gọi cây giống thiên niên kiện là củ ráy rừng. Nếu các bạn thấy ai đó gọi là sơn thục thì đó cũng chính là tên gọi khác của cây này. Thiên niên kiện là một trong những loại cây thuốc nam quý. Ở nhiều gia đình có sử dụng cây này để trang trí cây xanh trong nhà vì loại cây này có thể hút khí CO và formaldehyde giúp thanh lọc không khí và làm cảnh. Đây là loại cây có thân rễ mập, bò dài, lá xanh tốt mọc từ thân rễ, phiến lá sáng bóng xanh hơn.
“Thiên niên kiện mạnh gân xương/ trừ phong tê thấp, xông hương trị chàm”. Đó là câu ca mọi người hay nói về công dụng của loài cây này.
Công dụng của thiên niên kiện đều nằm ở tất cả các bộ phận của cây, từ rễ, thân đến lá, trong thành phần của cây có chứa một hàm lượng lớn tinh dầu (nằm nhiều ở phần thân rễ) có mùi thơm cực kỳ dễ chịu và có màu vàng nhạt. Các loại tinh dầu này giúp giảm tê dại chân tay, chữa gãy xương, đau lưng đùi, phong thấp đau nhức xương, chữa viêm dạ dày, ruột hiệu quả và chữa bệnh đau dạ dày. Ngoài ra còn được dùng để làm hương liệu và chiết xuất tinh dầu làm nguyên liệu tạo linalool.
Ở Vân Nam (Trung Quốc), thân rễ thiên niên kiện được dùng trị gãy xương, ngoại thương xuất huyết, đòn ngã tổn thương, đau dạ dày, tứ chi tê bại, gân mạch khó co duỗi, viêm dạ dày và ruột, loại phong thấp đau nhức khớp xương, phong thấp đau lưng đùi.
Thông tin thêm
1. Ngâm rượu thiên niên kiện
Các loại thảo dược:
- Củ thiên niên kiện: 1 kg
- Ngưu tất: 100g
- Câu kỷ tử: 100g
- Hổ cốt: 100g
Cách ngâm:
Đầu tiên chúng ta đem các loại thảo dược này thái lát mỏng đem phơi thật khô, sau đó rửa sơ qua nước sạch cho sạch bụi và cát, sau đó bỏ chung vào một cái hũ ngâm chung với 2 lít rượu (lưu ý rượu phải có độ cồn cao). Chúng ta ngâm trong khoảng thời gian 1 tháng khi nào thấy rượu chuyển sang màu vàng đen là được.
Bạn chỉ được uống 2 – 3 ly nhỏ trong mỗi bữa ăn hằng ngày.
Lưu ý:
- Không nên lạm dụng uống rượu quá nhiều, rượu này chỉ để chữa bệnh không phải để uống say.
- Không nên sử dụng quá nhiều củ thiên niên kiện, nếu dùng nhiều quá sẽ có nguy cơ ngộ độc cao.
2. Trồng thiên niên kiện
Đem bầu cây giống thiên niên kiện ra trồng. Cứ 1m2 trồng 4 gốc thiên niên kiện. cuốc hốc rộng 20cm, sâu 20 cm, bón lót bằng phân chuồng hoai mục, sau đó phủ đất lại chừng 5cm tiến hành đặt bầu cây giống
Cây thiên niên kiện có thể trồng xen dưới các tán rừng trồng ẩm ướt hoặc trồng dưới ruộng canh tác không năng suất, cây ưa bóng nhưng có khả năng chịu hạn rất tốt , năng suất trung bình 50 tấn/hecta, thời gian thu hoạch tốt nhất là trên ba năm.
Địa chỉ bán giống cây thiên niên kiện uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống thiên niên kiện phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.











