Bộ sưu tập






Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Cây móc mật hay mắc mật, mác mật, hồng bì núi, củ khỉ, dương tùng, mác một, mắc một, hồng bì núi, vương tùng (danh pháp khoa học là Clausena indica Oliv.; đồng nghĩa: Bergera nitida Thwaites) là loài thực vật có hoa thuộc họ Cửu lý hương Rutaceae. Từ “mắc mật” theo tìm hiểu là tiếng Tày – Nùng và có thể dịch nghĩa thành “quả ngọt”.

Mô tả cây móc mật
Cây vương tùng – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây nhỏ hay cây nhỡ, cao 3 – 4 cm, có khi hơn. Vỏ thân có nốt sần. Cành non màu đỏ tím. Lá kép mọc so le, gồm 5 – 7 lá chét dày, hình bầu dục hoặc hình trứng, dài 4 – 6cm, rộng 2 – 3,5cm, gốc gần tròn, đầu thuôn nhọn, mép nguyên hoặc có răng cưa rất nhỏ, gân lá 5 – 7 đôi. Soi lá lên thấy những chấm nhỏ, đó là những túi tinh dầu.
Cụm hoa mọc ở đầu cành thành xim phân đôi; hoa nhiều màu trắng thơm; đài 4 – 5 răng nhỏ; tràng 4 – 5 cánh; nhị 8 – 10, một nửa dài bằng cánh hoa, một nửa ngắn hơn, đính đối diện với cánh hoa; bầu hình cầu hoặc hình bầu dục. Quả dài 0,8 – 1 cm, đường kính 0,5 – 0,8 cm, khi chín màu đỏ, vỏ ngoài sần sùi. Toàn cây có tinh dầu thơm mạnh, nhất là lá và quả. Mùa hoa: tháng 4 – 8; mùa quả: tháng 9 – 1.
Thông tin thêm
1. Phân bố, sinh thái
Cây vương tùng – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Ở Việt Nam, chi Clausena Burm.f. có thể có 4 – 5 loài, trong đó có cây vương tùng, mới phát hiện ở một số điểm thuộc tỉnh Thanh Hóa (huyện Hà Trung, Nga Sơn, Đông Sơn), Ninh Bình (Đồng Giao, Hoa Lư), Hà Nam và ở đảo Cát Bà (Hải Phòng). Cây thường xanh, ưa sáng, chỉ thấy trong các quần hệ cây bụi trên núi đá vôi, mọc lên từ các khe đá hay hốc mùn. Khi còn nhỏ cây chịu bóng, về sau ưa sáng. Vương tùng ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Tuy nhiên, do địa hình núi đá vôi hiểm trở, chỉ có những hạt rơi được vào các hốc đá mới có khả năng nảy mầm. Cây cũng có khả năng tái sinh chồi khỏe sau khi bị chặt; đã từng được khai thác cất tinh dầu làm thuốc ở Thanh Hóa. Cây còn bị chặt làm củi hoặc bị phá hủy hoàn toàn do khai thác đá xây dựng, như ở khu vực Tam Điệp – Ninh Binh. Vì thế, vương tùng cũng là cây thuốc cần quan tâm bảo vệ ở Việt Nam. Cây trồng được bằng hạt ở nơi đất bằng phẳng hay trên nương rẫy.
2. Thành phần hóa học
Cây vương tùng – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Lá và cành vương tùng chứa tinh dầu trong đó có menthone, isomenthone, limonene, p-cymene và hydroxymenthone (Lê Tùng Châu, 1992).
Hàm lượng tinh dầu cao nhất trong quả già (6%) và lá chét (5,52%). Ở cuống lá và cành, hàm lượng tinh dầu không đáng kể (0,23% và 0,11% tương ứng).
Tinh dầu có những đặc điểm: Dn: 0,870 – 0,905; nD20: 1,451 – 1,461; αD20: -31o đến -41o; chỉ số ester 5 – 8, hàm lượng carbonyl 78 – 94%.
3. Tác dụng dược lý
Cây vương tùng – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Ở Việt Nam, Lê Tùng Châu và cộng sự (Viện Dược liệu) đã nghiên cứu nhiều mặt về cây vương tùng và xác định tinh dầu của cây có tác dụng kháng khuẩn khá mạnh. Bằng phương pháp pha loãng hệ nồng độ trong môi trường lỏng, tinh dầu vương tùng cho các kết quả sau: Với nồng độ 50 µg/ml có tác dụng ức chế các chủng: Shigella sonnei, Salmonella typhimurium, Salmonella choleraesuis, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Streptococcus agalactiae, Bacillus subtilis, Với nồng độ 75 µg/ml ức chế Staphylococcus aureus CCM 885 và S. aureus CCM 2317; với nồng độ 100 µg/ml ức chế Streptococcus faecalis CCM 1875. Ngoài ra, tinh dầu vương tùng còn có tác dụng diệt nấm Candida albicans. Bằng phương pháp sinh tư ký đã xác định hoạt chất có tác dụng kháng khuẩn trong tinh dầu vương tùng là isomenthone, menthone và hợp chất alcol.
Xem ngay sản phẩm hạt giống mướp hương tại vườn
Tác dụng của cây móc mật
1. Ẩm thực
- Quả móc mật vị hơi chua ngọt có thể dùng để ăn tươi hoặc dùng để nấu, kho trong một số món ăn đặc trưng.
- Lá mắc mật có chứa tinh dầu thơm nên được dùng trong các món vịt quay, lợn quay, kho cá, … Hơn nữa trong lá còn có hàm lượng protein, sắt, mangan, can xi rất cao tốt cho sức khỏe người sử dụng.
- Hạt mắc mật phơi khô xay thành bột, được mua về dùng làm gia vị.

2. Công dụng chữa bệnh
Cây vương tùng – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Vương tùng có vị đắng, hơi cay, tính mát, có tác dụng tiêu thực, kiện vị, hóa đờm, khư phong thấp, thanh nhiệt.
Ở Việt Nam năm 1965, cụ Đào Đình Khuê ở Thanh Hóa đã cất tinh dầu củ khỉ (vương tùng) làm thuốc chữa cảm mạo, sốt rét, đau nhức. Dựa trên kinh nghiệm đó, Xí nghiệp Liên hiệp dược và Trạm Nghiên cứu dược liệu tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp nghiên cứu khai thác cất tinh dầu, bào chế từ tinh dầu một dạng dầu xoa lấy tên “Dầu xoa vương tùng” để chữa cảm cúm, đau bụng. Có nơi dùng tinh dầu vương tùng phối hợp với một số tinh dầu khác như bạc hà, khuynh diệp, hương nhu để chế dầu xoa bóp chữa đau nhức, dầu uống chữa cảm sốt.
Ngoài tinh dầu, nhân dân còn dùng rễ và lá vương tùng (8 – 16g) sắc với 200ml nước còn 50ml uống làm 2 lần trong ngày, chữa tê thấp, cảm sốt. Rễ vương tùng phối hợp với vỏ cây thông, cành tía tô và thuyền thoái (liều lượng bằng nhau), thái nhỏ nấu nước tắm có tác dụng chữa phù toàn thân. Rễ và lá vương tùng cùng nhiều vị thuốc khác còn được dùng đắp bó chữa gãy xương.
Bài thuốc có vương tùng:
Chữa cảm cúm, đau bụng: Ngày uống 10 – 15 giọt tinh dầu vương tùng, kết hợp dùng dầu xoa.
Chữa cảm sốt, phong thấp, đau nhức khớp xương: Lá, cành, rễ vương tùng 20 – 30g. Sắc nước uống. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Trồng và chăm sóc cây móc mật
1. Dụng cụ trồng
Bạn có thể tận dụng ngay các bao xi măng, bao tải, chậu, khay hay thùng xốp có sẵn trong nhà hoặc mảnh đất trống trong vườn đã lâu không sử dụng để trồng cây mắc mật. Lưu ý: Nếu là dụng cụ thì dưới đáy phải đục lỗ để thoát nước.
Chậu trồng cây mắc mật tại nhà nên chọn chậu có kích thước miệng tối thiểu từ 35 – 40cm, cao từ 30 – 50cm để cây có nhiều diện tích hấp thụ chất dinh dưỡng phù hợp sinh trưởng lâu dài cho nhiều cành nhánh.
2. Đất trồng
Cây mắc mật có thể sinh trưởng và phát triển trên nhiều nền đất khác nhau như đất đỏ bazan, đất thịt pha cát. Ngoài ra còn có đất thoát nước tốt, đất nương rẫy, đất đồi thấp, phù sa ven suối và phù hợp với mọi địa hình.
Bạn có thể mua đất sẵn ngoài các shop hoặc tiến hành trộn đất với phân bò hoai mục, phân gà, phân trùn quế, vỏ trấu, xơ dừa, than bùn, mùn hữu cơ, … Nên bón lót với vôi rồi phơi ải khoảng 15 – 20 ngày trước khi trồng để xử lý sạch các mầm bệnh có trong đất.
3. Chọn giống và trồng cây
Cây móc mật giống thường được nhân giống từ hạt hoặc bằng phương pháp ghép cây.
→ Nhân giống từ hạt: Ưu tiên lựa chọn những hạt giống khỏe, sạch sâu bệnh, phơi nhẹ hạt giống dưới bóng râm từ 2 – 3 ngày. Sau đó ngâm hạt trong nước ấm (tỉ lệ 2 sôi 3 lạnh) liên tiếp trong vòng 6 giờ. Sau đó tiếp hành gieo vào bầu đất nylon có kích thước 15 x 30cm (bầu được đặt vị trị có che bóng hoặc nơi râm mát). Hàng ngày, tưới đẫm nước lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Khi cây con từ 3 – 4 cặp lá thật có thể bón thúc bằng phân chuồng hoại với phân lân rắc trên mặt bầu. Sau 12 tháng là có thể đem ra trồng.
→ Giống cây ghép: Sau khi chăm sóc cây từ hạt trong vườn ươm được 16 – 18 tháng, gốc cây ghép có đường kính 1 – 1,5cm là có thể tiến hành ghép. Gốc ghép được cắt ngọn cách mặt đất khoảng độ 20 – 30cm. Dùng dao chẻ đôi từ vị trí cắt ngọn sâu vào trong gỗ khoảng 1cm. Cành ghép là cành được chọn từ cây mẹ sai quả, là cành bánh tẻ có đường kính 1 – 1,5cm với sức sinh trưởng tốt, cành ghép dài 10cm có 4 – 5 chồi ngủ, đầu phía gốc cành được vạt hai bên thành hình nêm sao cho dễ cắm vào gốc ghép, dùng dây nylon quấn chặt lại. Sau khi ghép từ 15 – 20 ngày không được tưới nước quá ẩm. Sau khoảng 6 – 8 tháng có thể đem ra trồng ngoài vườn.
Dùng cuốc đào một lỗ nhỏ giữa hố với chiều sâu hơn chiều cao của bầu cây trồng khoảng 2 – 3cm. Sau đó, dùng dao rạch bầu nylon từ trên xuống một cách từ tốn, cắt bỏ phần rễ cong queo dưới đáy bầu, đặt cây nhẹ xuống hố vừa cuốc, lấp đất và ấn nhẹ xung quanh gốc cây. Tiếp theo cắm cọc để cố định và buộc cây vào cọc chống gió lay gốc. Khi trồng vào mùa mưa tránh để gốc cây bị ngâm nước. Sau khi trồng xong tiến hành tưới nước giữ ẩm để cây nhanh hồi sức.
4. Chăm sóc
Mắc mật là loài cây có sức chịu hạn tốt, tuy nhiên mùa khô cũng cần tưới nước thường xuyên để cây có điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển tốt.
Bón phân: Sau khi trồng được 1 đến 2 tháng cây đã bén rễ cần tiến hành bón phân đạm (pha loãng 1 – 2%) 1 – 2 lần, mỗi lần cách nhau 1 tháng để cây mau chóng phục hồi. Thời gian 1 – 2 năm đầu, hàng năm bón cho mỗi cây 0,2 – 0,4kg phân NPK 16-16-8, một năm bón 2 lần. Những năm sau đó tăng thêm 0,1kg/cây. Khi cây ra hoa, có quả bón 1 – 2kg NPK/cây, bón cách gốc 1 – 1,5m, bón bổ sung 0,2 – 0,3 kg vôi/cây.
Thường xuyên làm sạch cỏ xung quanh gốc để tránh cạnh tranh về dinh dưỡng.
Hai năm đầu cắt ngọn cây 1 – 2 lần cho cành khung khỏe, bộ tán gọn. Cắt bỏ cành nhỏ, cành vượt trong tán cây.
Vậy mua cây móc mật ở đâu uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, Long Biên. Đối diện với Tổng công ty may 10, Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây móc mật phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.








