Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Hồi hay đại hồi, đại hồi hương, bát giác hồi hương, tai vị, hoa hồi, tên tiếng Anh là star anise, badian, Chinese star anise, star anise seed, star aniseed, star of anise (danh pháp khoa học là Illicium verum Hook.f.) là loài thực vật thuộc họ Ngũ vị tử Schisandraceae.

Mô tả cây hồi
Cây đại hồi – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Hồi là một cây nhỡ cao 2 – 6 m, hình dáng toàn cây thon hình quả trám, xanh tốt quanh năm, thân mọc thẳng, cành dễ gãy. Lá mọc gần thành chùm 3 – 4 lá ở đầu cành, có cuống, phiến lá nguyên, dài 8 – 12 cm, rộng 3 – 4 cm, dòn, vò nát có mùi thơm. Hoa khá to, mọc đơn độc ở kẽ lá, cánh hoa màu trắng ở phía ngoài, hồng thắm ở mặt trong. Quả hồi (nhân dân vẫn gọi nhầm là hoa hồi tiếng Thổ là mác hồi hay mác chắc gồm 6 – 8 đại (cánh), có khi tới 12 – 13 đại xếp thành hình ngôi sao, đường kính trung bình 2,5 – 3 cm, dày 6 – 10 mm. Tươi có màu xanh, khi chín khô cứng thì có màu nâu hồng. Trên mỗi đại sẽ nứt làm hai, để lộ một hạt màu nâu nhạt, nhẵn bóng. Lá, cuống, hoa và quả đều chứa tinh dầu.
Cây đại hồi – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây nhỏ, thường xanh, cao 6 – 8 m. có thể đến 10m hay hơn. Cành thẳng, nhẵn, lúc non màu lục nhạt, sau chuyển nâu xám. Lá mọc so le, nhưng thường tụ tập ở những mấu nom như mọc vòng, hình mác hoặc trứng thuôn, dài 4 – 12 cm, rộng 3 – 4 cm, đầu nhọn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới rất nhạt, gân mờ, cuống lá ngắn.
Hoa mọc riêng lẻ hoặc 2 – 3 cái ở kẽ lá; đài 5 răng dễ rụng, mép viền hồng; cánh hoa 5 – 6, đều nhau, màu hồng sẫm dần về phía giữa; nhị thụ, nhẵn, chỉ nhị rộng mập, trung đới dày. Quả cấu tạo bởi 8 đại đều và rời nhau, có khi 9 – 12 (nhưng hiếm), các đại hình thoi xếp tỏa tròn thành.hình sao hay hình nan hoa, khi non màu lục sau chuyển nâu sẫm, phần đính vào cuống rộng hơn và dẹt, đầu có mũi nhọn ngắn, thẳng, khi chín núm ở mặt trên; hạt hình trứng nhẵn bóng, màu nâu. Toàn cây, nhất là quả có mùi thơm. Mùa hoa: tháng 3 – 5; mùa quả: tháng 6 – 9. Cây hồi lá nhỏ (Illicium parvifolium Merr.) mới được phát hiện ở Quảng Nam – Đà Nẵng và một số loài khác (chưa xác định được tên khoa học) có thể nghiên cứu để thay thế.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây đại hồi – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây hồi đặc biệt chỉ mọc trong một khu vực nhỏ chiếm khoảng 5.000 km2 ở tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, một số ít ở hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông (Trung Quốc) giáp ranh giới Việt Nam. Một số nơi khác cũng có trong nhưng không đáng kể như Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên. Trước đây người ta thường lẫn nó với cây hồi Nhật Bản Illicium anisatum L., có chất độc, hoặc cây hồi núi Illicium griffithii Hook.f. & Thomson cũng có chất độc.
Hồi hái vào hai vụ tháng 7 – 8 (hồi mùa) và 2 – 12 (hồi chiêm). Ngoài hai vụ chính, còn một vụ quả lớp rụng sớm vào tháng 3. Hồi hái về phơi nắng cho khô hẳn. Dùng cất tinh dầu hay tiêu thụ nguyên quả làm thuốc.
Mỗi cây, hàng năm cho từ 80 – 100kg quả tươi và như vậy luôn trong 40 – 50 năm. Thường một năm được mùa, một năm kém. Trên thị trường người ta chia hồi thành ba loại:
Loại 1: có 8 cánh to đều nhau, màu nâu đỏ (hồi đại hồng).
Loại 2: có 1 cánh trở lên bị lép, màu nâu đen.
Loại 3: có 3 cánh trở lên bị lép, màu nâu đen.
Loại hồi xô gồm lẫn lộn cả 3 loại trên.
Cây đại hồi – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Illicium L. gồm các loài thường là thân gỗ phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Bắc Mỹ, Australia, vùng Đông – Nam Á và Trung Quốc. Chi này có 4 – 5 loài ở Việt Nam.
Hồi có nguồn gốc ở vùng Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Hiện nay, hai khu vực này vẫn là nơi cung cấp tinh dầu hồi chủ yếu cho thế giới. Ở Việt Nam, cây có nhiều ở tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng. Gần đây phát triển rộng ra Quảng Ninh, Bắc Can, Lai Châu và Hà Giang. Cây thích nghi với vùng đồi núi thấp, nhiệt độ trung bình 21 – 23oC, lượng mưa hàng năm vào khoảng 1450 – 1600 mm (hoặc 1800 mm). Cây được trồng trên loại đất feralit đỏ vàng, mới được khai phá, có pH: 4 – 5,5.

2. Thành phần hoá học
Cây đại hồi – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Trong quả hồi ngoài các chất như chất nhầy, đường, chủ yếu chứa tinh dầu từ 3 – 3,5% (tươi) hoặc 9 – 10% hay hơn (khô). Tinh dầu hồi là một chất lỏng không màu, hay vàng nhạt, tỷ trọng ở +15oC từ 0,980 đến 0,990, độ đông đặc từ 14 – 18oC. Trong tỉnh dầu có 80 – 90% anethole, còn lại là terpene, pinene, dipentene, limonene, estragole, safrole, terpineol …
Lá hồi cũng chứa tinh dầu với thành phần gần tương tự. Độ đồng đặc hơi thấp hơn (13 – 14oC), nhưng nếu trộn cả tinh dầu lá và tinh dầu quả thì ta được một tinh dầu có độ đông vào khoảng 10oC.
Cây đại hồi – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Quả hồi chứa catechin, protocatechin, tinh dầu, dầu béo, các chất vô cơ. Tinh dầu lấy từ phương pháp cất kéo hơi nước từ quả hồi tươi với hàm lượng 3 – 3,5%. Tinh dầu là chất lỏng không màu hoặc màu vàng nhạt, mùi đặc biệt, kết tinh khi lạnh từ -2o đến +1o, nD20 1,5520 – 1,5602, αD – 1,77 đến 0,57.
Tinh dầu chứa 6 thành phần chính là linalool 0,1 – 1,5%, estragole 0,3 – 6%, terpinenol 0,1 – 1,5%, cis-anethole < 0,5%, trans-anethole 84 – 93%, anisaldehyde 0,1 – 3,5% (Dược điển Pháp XI).
Theo quy định của Dược điển Việt Nam II, tập 3 tinh dầu hồi phải có điểm đông đặc trên 15o (tương đương với hàm lượng anethole, 85 – 95%).
Cis-anethole có độ độc đối với động vật gấp 15 – 38 lần so với trans-anethole.
Ngoài ra, tinh dầu quả hồi còn chứa 1,4-cineol, β-bisabolene, β-farnesen, α-copaene, cis và trans-bergamotene, caryophyllene, nerolidol, methyl-ansoate, trans-methyleugenol, cadinene, foeniculin, 3-carene, phellandrene và có thể có safrole.
Quả hồi thuộc nhóm 13 cánh có hàm lượng tinh dầu trong quả và hàm lượng anethole trong tinh dầu cao nhất, sau đến quả hồi thuộc nhóm trung gian, cuối cùng là quả hồi nhóm 8 cánh.
Hàm lượng anethole trong tinh dầu quả hồi nhóm 13 cánh là 84,50 – 93,40%, nhóm trung gian là 82,00 – 89,00%, nhóm 8 cánh là 80,00 – 87,70%.
Tinh dầu lá hồi cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Tinh dầu lá hồi ở Lạng Sơn có điểm đông là 13o (Eberhardt) và 17o (Drouet, 1938). Theo Nguyễn Thị Tâm và cs., 1979, lá hồi tươi chứa 0,23% tinh dầu (nguyên liệu tươi), tập trung ở cuống lá 0,80%. Tinh dầu lá hồi chứa 82,5% anethole, chủ yếu là trans-anethole. Tinh dầu cuống lá chứa 87,5% anethole.
Hạt đã loại vỏ chứa 55% dầu, trong đó có acid myristic 9,43%, acid stearic 7,93% acid oleic 63,24%.
3. Tác dụng dược lý
Cây đại hồi – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Tinh dầu hồi được thử nghiệm với phương pháp khuếch tán trên môi trường thạch có tác dụng ức chế sự phát triển của các chủng vi khuẩn ở nồng độ tối thiểu như trực khuẩn lao (giảm độc, nồng độ 1:1500), trực khuẩn subtilis (nồng độ 1:500), Candida albicans (1:500), Salmonella typhi (1:500), tụ cầu khuẩn vàng (1:250), Shigella flexneri (1:100), Bacillus mycoides (1:100).
Tinh dầu hồi có tác dụng diệt Entamoeba moshkovskii nuôi cấy trong môi trường với nồng độ tối thiểu ức chế 1:80.
Quả hồi có tác dụng dược lý như sau:
– Đối kháng với histamin và acetylcholin, làm giảm độ co thắt cơ trơn ruột cô lập chuột lang.
– Bảo vệ chống ngộ độc rắn mang bành, nâng cao tỷ lệ sống hoặc kéo dài thời gian cầm cự của nhóm động vật được cho thuốc so với nhóm đối chứng.
– Hồi và tinh dầu hồi, thử nghiệm trên chuột lang đặt trong buồng khí dung histamin, có tác dụng kéo dài thời gian chịu đựng của chuột, làm chậm xuất hiện triệu chứng khó thở của chuột lang được cho thuốc so với đối chứng.
Theo tài liệu nước ngoài, tinh dầu hồi có những tác dụng:
– Kích thích tăng cường nhu động ruột, chữa đau bụng và tăng tiết dịch đường hô hấp, dùng làm thuốc khử đờm.
– Ức chế sự phát triển trực khuẩn lao và trực khuẩn subtilis.
Thành phần safrole chứa trong tinh dầu hồi có tác dụng kích ứng da. Cao chiết từ hồi có tác dụng ức chế sự phát triển các bào tử của nhiều loài nấm gây bệnh.


Công dụng của cây hồi
Hồi có vị cay, mùi thơm, tính ấm, vào 4 kinh can, thận, tỳ, vị, có tác dụng trừ hàn, khai vị, kiện tỳ, tiêu thực, chống nôn, chỉ thống, trừ phong, sát trùng.
Hồi được dùng làm thuốc gây trung tiện, giúp tiêu hóa, lợi sữa, có tác dụng giảm đau, giảm co bóp trong đau dạ dày, đau ruột, những trường hợp dạ dày và ruột co bóp quá mạnh, nôn mửa, tiêu chảy, ăn không tiêu, bụng đầy trướng, đái nhiều, đái dầm, ngộ độc thịt cá, rắn cắn. Ngày dùng 4 – 8g, dạng thuốc hãm, rượu thuốc, hoặc 1 – 4g dạng thuốc bột. Rượu ngâm hồi dùng xoa bóp hoặc bột hồi làm cao dán chữa đau nhức, thấp khớp, đau lưng, sưng khớp, bong gân. Chữa rắn cắn, dùng lá hồi nhai nuốt nước, bã đắp. Chữa miệng hôi, mỗi ngày nhai vài cánh rồi nuốt.
Ngoài ra, hồi còn được dùng làm rượu khai vị, làm thơm thuốc đánh răng và gia vị. Tuy nhiên, nếu dùng nhiều và với liều quá cao sẽ bị ngộ độc với hiện tượng say, run chân tay, sung huyết não và phổi, có khi co giật như động kinh. Những người âm hư hỏa vượng không nên dùng.
Ở Ấn Độ, quả hồi được nhai để làm thơm hơi thở và giúp sự tiêu hóa. Là thuốc dễ tiêu và gây trung tiện, hồi có ích trong các chứng bệnh đầy hơi, co thắt ống tiêu hóa, ly. Nó là thành phần phụ trong những thuốc ho hỗn hợp. Tinh dầu hồi cũng có tác dụng kích thích. làm dễ tiêu, gây trung tiện, long đờm và lợi tiểu nhẹ, được dùng chữa đau bụng, là một thành phần của thuốc ngậm chữa ho và là thuốc xoa bóp chữa thấp khớp, thuốc chữa đau tai, sát khuẩn, trị bệnh nấm da và ghẻ. Nó còn là thuốc diệt rận, rệp và là một thành phần của thuốc bơm trừ bọ cho gia súc. Ở Trung Quốc, hồi được dùng chữa đau bụng lạnh, nôn mửa (phối hợp với gừng và đinh hương), chữa thoát vị (với hạnh nhân và hành trắng).
Chú ý: Dùng nhầm phải quả hồi núi sẽ bị ngộ độc, có triệu chứng nôn mửa, rát họng, đau bụng, chân tay lạnh, chảy nước rãi.
Bài thuốc có hồi:
Chữa trúng phong, bại liệt một bên mình: Hồi 12g; quế chi 20g, đinh hương, rau sam, dây bìm bìm, cây nghệ, lá cây tiêu gió, cây xương bồ, huyết giác, đều 12g. Tán nhỏ trộn với một bát rượu và một chút nước tiểu dùng xoa bóp.
Chữa phong thấp: Hồi, hồ tiêu, phèn chua, đều bằng nhau. Giã nhỏ, xoa bóp vào chỗ đau.
Chữa hôi miệng: Hồi 4g, hoàng nàn 40g (ngâm với nước đậu đen một ngày để bớt độc, hoặc nấu với dầu đen). Tán nhỏ, làm thành viên to bằng hạt đậu xanh, uống mỗi lần 3 viên, ngày 3 lần.
Chữa các loại đau về khí, đau tức sót lên tim, toát mồ hôi lạnh, suyễn thở: Hồi, ô dược, thanh bì, riềng, các vị đều nhau. Sao (trừ hồi và ô dược), tán nhỏ, uống với rượu đun nóng và đồng tiện.
Chữa đau lưng: Hồi (bỏ hạt) tẩm nước muối sao, tán nhỏ. Mỗi lần uống 0,6g với rượu. Ngoài dùng lá ngải cứu chườm nóng lưng.
Làm sạch chân răng, chữa đau răng: Hồi, phèn chua, sáp ong già, cà gai leo, lượng bằng nhau, nghiền mịn. Sắc lấy nước ngậm.
Chữa sai khớp, bong gân: Hồi, quế, đinh hương, vỏ sồi, vỏ núc nác, gừng sống, lá canh châu, lá đau xương, mủ xương rồng bà, lá thầu dầu tía, lá náng, lá kim cang, lá mua, huyết giác, nghệ, hạt trấp, hạt máu chó, lá bưởi bung, lá tầm gửi cây khế (nếu có sưng thì bỏ lá đau xương, thêm giấm). Giã nhỏ, sao nóng, chườm.
Chữa đái tiểu tiện không lợi: Hồi 40g (tán nhỏ), hạt bìm bìm đen 160g (sao, tán nhỏ). Mỗi lần uống 4g với nước gừng.
Trừ rệp: Hồi 1 phần, bồ kết 2 phần. Tán nhỏ, hòa với nước điếu mà nhỏ vào chỗ khe giường.
Diệt chuột: Hồi (tán bột), tỏi (giã nhỏ). Trộn đều, làm thành viên. Ngoài dùng bột gạo nếp nhào với nước bọc lại thành bánh, để cho chuột ăn.
Cách trồng cây hồi
Cây đại hồi – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Hồi là cây đặc sản quý của nước ta, được trồng chủ yếu ở Lạng Sơn, Quảng Ninh và Cao Bằng.
Hồi hiện được nhân giống bằng hạt. Hạt được chọn từ quả hồi chính vụ (tháng 8 – 9) của cây mẹ khỏe mạnh, trên 10 tuổi, sai quả và phần lớn quả có 8 – 11 cánh. Khi quả chín chuyển từ màu xanh sang màu vàng mơ là thu hái được. Quả hái về trải thành một lớp mỏng nơi bóng râm thoáng mát qua 4 – 5 ngày để tách lấy hạt. Hạt thu xong không được phơi nắng mà phải bảo quản trong cát ẩm. Cứ 2 tuần kiểm tra đảo hạt một lần, đến mùa xuân thì đem gieo trong vườn ươm.
Vườn ươm cần chọn đất sét nhẹ, đất đỏ, màu mỡ, đủ ẩm. Không chọn đất cát làm vườn ươm vì lúc nhỏ, cây hồi không chịu được nhiệt độ cao, đất cát lại dễ nóng lên về mùa hè, làm cho cây con dễ bị chết. Đất cần làm kỹ, bón lót 5 – 6 kg phân chuồng hoai cho mỗi mét vuông.
Hạt có thể gieo vãi hoặc gieo theo hàng với lượng 1 kg trên 50 – 100 m2. Gieo xong dùng rơm rạ phủ và tưới ẩm. Sau 10 – 15 ngày hạt nảy mầm, dỡ bỏ dần rơm rạ phủ và làm giàn che cao 0,5 – 0,6 m. Lúc đầu che kín, sau khi cây lên giảm dần độ che bóng. Đến năm thứ hai duy trì ở mức 30 – 40%. Trước khi trồng 1 – 2 tháng cần bỏ giàn che. Vườn ươm cần giữ luôn sạch cỏ, bón thúc và phòng trừ nấm bệnh hại gốc cây con. Có thể dùng Bordaux tưới định kỳ 15 ngày một lần trong 3 tháng đầu với lượng 5 lít/m2. Nếu để cây 2 tuổi mới trồng thì sau năm đầu cần mở rộng khoảng cách chuyển cây vào bầu. Bầu có đường kính 10 – 12 cm, cao 15 cm, gồm 90% đất và 10% phân chuồng mục.
Thời vụ trồng cây con là mùa xuân. Đất trồng hồi cần chọn chỗ có tầng đất mặt dày, giàu dinh dưỡng, độ pH 5 – 5,5. Cây có tán lá rậm, rễ cọc ăn nông, kém chịu gió bão nên ở đỉnh núi lộng gió và khe núi có gió lùa mạnh không thích hợp để trồng hồi. Khi trồng, đào hố sâu 50 – 60 cm, rộng 50 – 60 cm, khoảng cách giữa các hố 5 – 8 m (mật độ 400 – 600 cây/ha), phát quang 0,7 – 0,8 m xung quanh hố, bón lót 15 – 20kg phân chuồng rồi đặt cây giống, lấp đất, tưới ẩm.
Thời kỳ còn nhỏ, cây hồi cần được che bóng, người ta không phát quang trước khi trồng mà giữ nguyên những cây rừng sẵn có để lợi dụng bóng mát. Về sau, khi cây hồi lớn đến đâu, dọn dần cây rừng và cỏ dại đến đó. Cũng có thể trồng xen khoai, sắn hoặc chè. Để có năng suất quả cao, hàng năm trước khi cây ra hoa và sau khi thu hoạch quả, cần phải bón thúc. Tốt nhất, là dùng các loại phân hữu cơ có bổ sung thêm NPK, mỗi lần bón 15 – 20 kg cho 1 cây. Khi bón đào rãnh quanh tán cây, bón xong lấp đất.
Hàng năm, hồi ra hoa kết quả 2 vụ, vụ chính thu hoạch vào tháng 7 – 9, vụ muộn thu hoạch vào tháng 11 – 12. Vụ muộn cho năng suất thấp hơn. Cây trồng sau 5 – 6 năm bắt đầu cho thu hoạch. Sau 15 năm, mỗi cây có thể cho 10 – 20 kg quả tươi/năm, sau 20 năm, năng suất tương đối ổn định ở mức 20 – 30 kg/năm.
Có tác giả gần đây phát hiện thấy hồi nhân giống bằng hạt có quy luật ra hoa, không giống nhau. Trong cùng một quần thể, có cây ra hoa 2 vụ, có cây ra hoa vụ chính, có cây chỉ ra hoa vụ muộn, có cây ra hoa cách năm và có những cây không bao giờ ra hoa. Hiện tượng này có ảnh hưởng rất lớn tới năng suất của cây hồi, cần được quan tâm nghiên cứu thêm. Hiện nay, các địa phương có lợi thế trồng hồi đang có kế hoạch phát triển hồi thành cây hàng hóa. Cây hồi xứng đáng được đầu tư nghiên cứu toàn diện hơn.
Địa chỉ bán cây giống hồi tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống hồi phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Cây đại hồi – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Cây đại hồi – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.








