Độ hoàn thiện nội dung: 50%.
Bao báp, tên tiếng Anh là baobab là tên của nhiều loài cây thân gỗ thuộc chi Adansonia, trước đây thuộc họ Gạo Bombacaceae, hiện nay được xếp vào phân họ Gạo Bombacoideae trong họ Cẩm quỳ Malvaceae.
Hiện có tám loài thuộc chi Adansonia được báo cáo có nguồn gốc ở châu Phi, châu Úc và Madagascar, cũng thấy được du nhập vào nhiều khu vực khác trên thế giới, bao gồm quốc đảo Barbados, nơi một số cây bao báp được cho là có nguồn gốc từ châu Phi. Ngoài ra, bao báp cũng đã được đưa vào châu Á. Các phân tích hệ gen và sinh thái cho thấy chi này có khả năng bắt nguồn từ Madagascar (Jun-Nan Wan et al.; 2024).

Mô tả cây bao báp
Bề ngoài bao báp là những cây gỗ rụng lá lâu năm, kích thước từ nhỏ đến lớn, cao từ 5 đến 30 m với thân to và tán gọn. Cây non thường có thân thon, thuôn dần về phía ngọn, phình ở gốc. Cây trưởng thành có thân lớn, thậm chí khổng lồ, hình chai hoặc hình trụ, thuôn từ dưới lên trên. Thân cây cấu tạo từ gỗ sợi, xếp thành các vòng đồng tâm, tuy nhiên các vòng này không hình thành hằng năm nên không thể dùng để xác định tuổi chính xác của từng cá thể. Đường kính thân dao động theo lượng mưa, do đó mà người ta cho rằng nước có thể được tích trữ trong thân. Bao báp có hai loại chồi: chồi sinh dưỡng dài, màu xanh và chồi sinh sản ngắn, hóa gỗ. Cành có thể rất lớn, tỏa ngang từ thân hoặc mọc chếch lên trời.

Adansonia gregorii thường là loài nhỏ nhất trong chi, hiếm khi cao quá 10 mét và thường có nhiều thân. Cả A. rubrostipa và A. madagascariensis đều là cây gỗ từ nhỏ đến lớn, cao từ 5 đến 20 mét. Các loài bao báp khác thường cao từ 25 đến 30 mét, với thân có đường kính từ 2 đến 3 m. Riêng A. digitata thường có thân đơn hoặc nhiều thân cỡ đại, đường kính có thể lên đến 10 m.

Lá của bao báp ở cây trưởng thành thường là lá kép chân vịt (palmate), trong khi cây con và các chồi tái sinh có thể mang lá đơn. Sự chuyển tiếp từ lá đơn sang lá kép diễn ra theo tuổi hoặc dần dần qua thời gian. Lá kép gồm 5 – 11 lá chét, không cuống hoặc có cuống ngắn, lá chét ở giữa thường lớn nhất. Mép lá chét nguyên hoặc răng cưa, phiến nhẵn hoặc có lông. Bao báp có lá kèm ở gốc lá, nhưng ở hầu hết các loài thì lá kèm sớm rụng. Cây rụng lá trong suốt mùa khô.

Hoa của phần lớn các loài Adansonia mọc trên một cuống ngắn, thẳng đứng hoặc tỏa sang ngang, ở nách lá gần đầu các chồi sinh sản. Chỉ riêng A. digitata có hoa và quả mọc trên cuống dài, rủ xuống. Thông thường mỗi nách lá chỉ có một hoa, đôi khi hai hoa. Hoa lớn, sặc sỡ và có mùi thơm mạnh, chỉ nở vào lúc chạng vạng. Quá trình nở diễn ra nhanh, các bộ phận hoa chuyển động đủ nhanh để quan sát thấy bằng mắt thường. Phần lớn loài Adansonia được thụ phấn bởi dơi.
Hoa có thể tồn tại trên cây trong vài ngày, nhưng pha sinh sản lại rất ngắn, phấn hoa được phát tán trong đêm đầu tiên và đầu nhụy sẽ héo vào sáng hôm sau. Hoa gồm một đài 5 thùy ở ngoài và một vòng cánh hoa ở bên trong, bao quanh ống nhị hợp. Các thùy đài thường màu xanh (màu nâu ở A. grandidieri), ở nụ thì gần như dính nhau đến tận chóp. Khi hoa nở, các thùy đài tách ra, cuộn lại hoặc bẻ ngược về gốc hoa. Mặt trong của thùy đài có lông tơ mịn, màu kem, hồng hoặc đỏ. Đôi khi các thùy không tách hoàn toàn, làm biến dạng hình dạng hoa khi bẻ ngược. Các thùy đài vẫn dính ở gốc, tạo thành ống đài (calyx tube) có mô tiết mật, dạng chén, dẹt hoặc hình ống; hình thái ống đài thay đổi tùy loài.
Hoa có một ống trung tâm (ống nhị) tạo bởi các chỉ nhị hợp, phía trên mang các chỉ nhị rời. Bầu noãn có lông dày, nằm trong ống nhị, vòi nhụy dài mang đầu nhụy nhô ra từ các chỉ nhị. Cánh hoa mọc gần gốc ống nhị, hình dạng và màu sắc sẽ có sự biến thiên. Hoa khi mới nở có thể màu trắng, kem, vàng tươi hoặc đỏ sẫm, nhưng nhanh chóng phai màu, thường chuyển sang đỏ khi khô.


Quả của bao báp là một trong những đặc điểm phân biệt của chi. Quả lớn, hình bầu dục đến gần tròn, dạng quả mọng ở hầu hết các loài (ở A. madagascariensis thường dài dưới 10 cm). Vỏ ngoài khô, cứng, có độ dày thay đổi. Ở phần lớn loài, vỏ quả thường không tự mở (indehiscent). A. gibbosa là loài duy nhất có hiện tượng quả nứt khi còn trên cây, khi rơi xuống đất là quả sẽ tách ra. Bên trong lóp vỏ ngoài, hạt hình thận dài 10 – 15(-20) mm nằm trọn trong lớp thịt quả khô (David A. Baum; 1995).


Phân loại học của bao báp
Những ghi chép sớm nhất về cây bao báp xuất hiện trong một tập du ký thế kỷ XIV của nhà lữ hành Ả Rập Ibn Battuta. Mô tả thực vật học đầu tiên được ghi trong De medicina Aegyptiorum của Prospero Alpini (1592), dựa trên quan sát các quả mà ông thấy ở Ai Cập từ một nguồn chưa rõ. Chúng được gọi là Bahobab, có thể bắt nguồn từ tiếng Ả Rập أَبُو حِبَاب (abū ḥibāb) nghĩa là “quả nhiều hạt”. Nhà thám hiểm và thực vật học người Pháp Michel Adanson (1727–1806) đã quan sát một cây bao báp vào năm 1749 trên đảo Sor ở Senegal, sau đó ông viết bản mô tả thực vật chi tiết đầu tiên về toàn bộ cây, kèm theo hình minh họa. Nhận thấy mối liên hệ với loại quả mà Alpini từng mô tả, ông đặt tên chi là Baobab. Sau đó Linnaeus đổi tên chi thành Adansonia để vinh danh Adanson, nhưng tên gọi quen thuộc baobab vẫn được sử dụng cho đến nay (David A. Baum; 1995).
Chi Adansonia thuộc phân họ Bombacoideae, trong họ Malvaceae, bộ Malvales. Phân họ Bombacoideae trước đây từng được coi là họ Bombacaceae, nhưng không còn được công nhận ở cấp bậc họ theo hệ thống của Angiosperm Phylogeny Group I (1998), II (2003) cũng như hệ thống Kubitzki (2003).
Những họ hàng gần nhất còn sống của Adansonia trong phân họ Bombacoideae là các chi Nam Mỹ: Cavanillesia, Scleronema, Catostemma và Aguiaria (Jefferson G. Carvalho-Sobrinho; 2016). Hiện có tám loài Adansonia được công nhận. Một loài mới (Adansonia kilima Pettigrew, K.L.Bell, Bhagw., Grinan, Jillani, Jean Mey., Wabuyele & C.E.Vickers) được mô tả năm 2012, tìm thấy ở các khu vực cao nguyên thuộc Đông và Nam Phi (Jack D. Pettigrew FRS; 2012). Tuy nhiên, loài này hiện không còn được xem là một loài riêng biệt mà được coi là đồng danh của A. digitata. Một số cây ở vùng cao Tanzania cho thấy sự khác biệt về di truyền và hình thái, nhưng cần nghiên cứu thêm để xác định liệu chúng có nên được công nhận là một loài riêng hay không (G.V. Cron; 2016).
Chi Adansonia được chia thành ba phân chi:
- Phân chi Adansonia: Chỉ gồm A. digitata. Loài này có hoa và quả rủ xuống, mọc trên cuống hoa dài. Đây là loài chuẩn (type species) của chi Adansonia. Tất cả các loài Adansonia đều là lưỡng bội, ngoại trừ A. digitata là tứ bội.
- Phân chi Brevitubae: Gồm A. grandidieri và A. suarexensis. Các loài này có nụ hoa mọc trên cuống ngắn, với nụ hoa dài gấp khoảng hai lần chiều rộng.
- Phân chi Longitubae: Bao gồm các loài còn lại. Chúng cũng có hoa và quả mọc trên cuống ngắn, nhưng nụ hoa dài gấp năm lần hoặc hơn so với chiều rộng.
Công dụng của bao báp
Lá bap báp được sử dụng làm rau ăn.
Phần thịt trắng bên trong quả của bao báp Úc (Adansonia gregorii) có vị giống như kem sherbet, với vị chua, gắt đặc trưng của cam chanh, cung cấp nhiều vitamin C, kali, carbohydrate và photpho.
Bột quả khô của A. digitata (thường gọi là bột bao báp) chứa khoảng 11% nước, 80% carbohydrate (trong đó 50% là chất xơ), hàm lượng vừa phải của nhiều dưỡng chất như riboflavin, canxi, magiê, kali, sắt và phytosterol, cùng hàm lượng protein và chất béo thấp. Hàm lượng vitamin C, vốn thay đổi tùy mẫu, dao động từ 74 đến 163 mg (1,14 – 2,52 g) trên 100 g bột khô. Năm 2008, phần thịt quả khô của bao báp đã được Liên minh châu Âu cho phép sử dụng như một thành phần thực phẩm an toàn (safe food ingredient), và sau đó cùng năm được Cơ quan quản lý thực phẩm Hoa Kỳ cấp chứng nhận GRAS (generally recognized as safe – được công nhận là an toàn).
Tại Angola, quả khô của A. digitata thường được luộc, nước luộc dùng để pha chế nước giải khát hoặc làm nền cho một loại kem gọi là gelado de múcua. Ở Zimbabwe, quả A. digitata được ăn tươi hoặc phần thịt khô vụn được trộn vào cháo và đồ uống. Tại Tanzania, phần thịt khô của quả A. digitata được thêm vào mía để hỗ trợ quá trình lên men trong sản xuất bia.
Địa chỉ bán cây giống bao báp tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống bao báp phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Adansonia – Wikipedia tiếng Anh.
- Melanie; Kimberly (2012). “The oldest & largest in Barbados: Boabab”. www.loopbarbados.com.
- Jun-Nan Wan, Sheng-Wei Wang, Andrew R Leitch, Ilia J Leitch, Jian-Bo Jian, Zhang-Yan Wu, Hai-Ping Xin, Mijoro Rakotoarinivo, Guy Eric Onjalalaina, Robert Wahiti Gituru, Can Dai et al. (2024). “The rise of baobab trees in Madagascar”. Nature. 629(8014): 1091 – 1099.
- David A. Baum (1995). “A systematic revision of Adansonia (Bombacaceae)”. Annals of the Missouri Botanical Garden. 82(3): 440 – 471.
- Jefferson G. Carvalho-Sobrinho, William S. Alverson, Suzana Alcantara, Luciano P. Queiroz, Aline C. Mota, David A. Baum (2016). “Revisiting the phylogeny of Bombacoideae (Malvaceae): Novel relationships, morphologically cohesive clades, and a new tribal classification based on multilocus phylogenetic analyses”. Molecular Phylogenetics and Evolution. 101: 56 – 74.
- Jack D. Pettigrew FRS, Karen L. Bell, Adhil Bhagwandin, Eunice Grinan, Ngalla Jillani, Jean Meyer, Emily Wabuyele, Claudia E. Vickers (2012). “Morphology, ploidy and molecular phylogenetics reveal a new diploid species from Africa in the baobab genus Adansonia (Malvaceae: Bombacoideae)”. Taxon. 61(6): 1240 – 1250.
- G.V. Cron, N. Karimi, K.L. Glennon, C. Udeh, E.T.F. Witkowski, S.M. Venter, A. Assogbadio, D.A. Baum (2016). “One African baobab species or two? A re-evaluation of Adansonia kilima”. South African Journal of Botany. 103: 312.








