skip to Main Content
Các Loài Hoa Hiếm Và đẹp Mã Trên Thế Giới Cho Bạn Chiêm Ngưỡng ( Phần 1 )

Các loài hoa hiếm và đẹp mã trên thế giới cho bạn chiêm ngưỡng ( phần 1 )

Các loài hoa hiếm và đẹp nhất trên thế giới xung quanh ta mà bạn chưa biết. Bài viết không mang tính chất so sánh mà chỉ điểm tên các loài hoa xứng đáng có mặt trong danh sách này. Vậy còn chần chừ gì nữa, kéo xuống tìm hiểu các loài hoa hiếm và đẹp ngay thôi.

1. Gibraltar Campion

Silene tomentosa Otth, tên thông thường là Gibraltar campion, là một loài thực vật có hoa rất hiếm thuộc chi Silene trong họ Cẩm chướng Caryophyllaceae. Được biết đây là một cây thân gỗ lâu năm cao khoảng 40 cm, với những bông hoa có hai thùy từ hồng đến tím nhạt và là loài đặc hữu của Gibraltar – vùng lãnh thổ hải ngoại thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, nằm gần cực Nam bán đảo Iberia, bên trên eo biển Gibraltar, giáp Tây Ban Nha ở phía Bắc.

Hình ảnh cho loài Silene Tomentosa

Mặc dù cộng đồng khoa học bên ngoài Gibraltar nghĩ rằng đã bị tuyệt chủng, khu vực bách thảo của Hội nghiên cứu chim và lịch sử tự nhiên Gibraltar ( Gibraltar Ornithological & Natural History Society – GONHS ) biết rằng nó vẫn còn tồn tại vào năm 1985, nhưng đến năm 1992 họ cũng coi là nó đã tuyệt chủng. 

Sau đó bằng một cách tình cờ, một mẫu vật Silene tomentosa lại được phát hiện tiếp vào năm 1994, khi nó được nhìn thấy là đang phát triển trong Khu bảo tồn thiên nhiênGibraltar. Sau phát hiện lại này, S. tomentosa đã được nhân giống tại Ngân hàng hạt giống thiên niên kỷ ( Millennium Seed Bank – MSP ) và mẫu vật được đem về và lưu giữ tại Vườn bách thảo hoàng gia, Kew ở London.

Vì là loài cực hiếm, Silene tomentosa được bảo vệ bởi luật Gibraltar theo Đạo luật Bảo vệ Thiên nhiên, năm 1991. 

2. Các loài hoa hiếm và đẹp – Hoa mỏ vẹt

Lotus berthelotii Lowe ex Masf là một loài thực vật có hoa lâu năm đặc hữu của Quần đảo Canary, nằm trong chi Lotus thuộc họ Đậu Fabaceae. Loài này được Masf. miêu tả khoa học đầu tiên. Các tên phổ biến của hoa thường được biết tới là lotus vine flower, parrot ( hoặc parrot’s ) beak ( Hoa mỏ vẹt ), pelican beak ( Mỏ bồ nông ), và coral gem. Được biết đây là loài cây này được nhân giống khá rộng rãi nhưng đã từng bị cho là tuyệt chủng trong tự nhiên hoặc tồn tại lẻ tẻ dưới một vài cá thể. Năm 1884, nó đã được xếp vào loại “cực kỳ hiếm” và sở thích sưu tầm thực vật có thể đã đẩy nhanh sự suy giảm của loài cây này.

Hình ảnh cho hoa mỏ vẹt

Những bông hoa của và một số loài khác thuộc Đảo Canary dường như được biến đổi để thích nghi với thụ phấn nhờ chim. Đã từng có thời điểm người ta nghĩ rằng các loài thụ phấn ban đầu của các loài cây này ( và các chi khác như IsoplexisCanarina ) là loài chim hút mậtPhylloscopus canariensis ( sunbird ) vốn đã tuyệt chủng trên Quần đảo Canary, đã lý giải vì sao chúng được coi là các loài cây quý và đang có nguy cơ tuyệt chủng ( Vogel 1954; Vogel et al. 1984 ; Valido và cộng sự 2004 ). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng những cây này được thụ phấn bởi những chú chim viếng thăm hoa không chuyên, đặc biệt là loài Canary Islands chiffchaf – chim chích lá thuộc quần đảo Canary, Tây Ban Nha, và thực tế cho thấy một số đã thích nghi cực tốt đối với sự thụ phấn không thường xuyên của những chú chim này, chẳng hạn như tuổi thọ tối đa của hoa được kéo dài.

3. Hoa dâm bụt Hawaii ( Hawaiian hibiscus hoặc kokiʻo )

Hoa dâm bụt Hawaii thực chất là bảy loài dâm bụt có nguồn gốc chính từ đảo Hawaii với những tên gọi và đặc trưng riêng. Hoa dâm bụt màu vàng là hoa tiểu bang của Hawaii ( Hawaii’s state flower ). Hầu hết dâm bụt được trồng làm cảnh ở quần đảo Hawaii là dâm bụt Trung Quốc ( Hibiscus rosa-sinensis ) và nhiều loài lai của nó, nhưng không vì thế mà loài Hibiscus arnottianus bản địa lại không được trọng dụng.

Sau đây là bảy loài hoa bản địa đẹp và hiếm của Hawaii cho bạn đọc tham khảo.

Hình ảnh cho Hibiscus arnottianus

Hibiscus arnottianus A.Gray; tên bản địa là kokiʻo keʻokeʻo ( hay “kokiʻo có màu trắng như ánh bạc” ) là một loài dâm bụt đặc hữu có hoa màu trắng. Với ba phân loài khác được công nhận là:

– H. arnottianus ssp. arnottianus được tìm thấy ở dãy Waiʻanae phía tây đảo Oʻahu;

– H. a. ssp. Immaculatus rất hiếm ( được liệt vào danh sách có nguy cơ tuyệt chủng ) được tìm thấy trên Molokai – một hòn đảo ở quần đảo Hawaii; Người ta nghi vấn rằng chỉ còn chục cá thể của H. a. ssp. imaculatus là tồn tại tự nhiên trong các khu rừng mưa và ẩm thấp của Hawaii;

– H. a. ssp. Punaluuensis được phát hiện trên dãy Koʻolau thuộc đảo Oʻahu.

H. arnottianus được biết là có liên quan chặt chẽ với H. waimeae vì hai loài này là một trong số rất ít thành viên của chi có hoa thơm. Nó đôi khi được trồng làm cảnh hoặc lai với H. rosa-sinensis. Trong ngôn ngữ Hawaii, dâm bụt trắng được gọi là aloalo pua

Dâm bụt hoa vàng Hibiscus brackenridgei

Hibiscus brackenridgei A.Gray – maʻo hau hele ( “hau tương tự như maʻo – chỉ loài Gossypium tomentosum” ) là một loại cây bụi cao với hoa màu vàng sáng, có liên quan chặt chẽ với H. divaricatus. Hai phân loài được công nhận là:  

– H. b. ssp. Mudenridgei, một loại cây bụi bò lan ngổn ngang đến dạng cây mọc thẳng đứng trong các khu rừng khô và vùng cây bụi thấp ở độ cao 400 – 2.600 ft so với mực nước biển trên Molokai, Lānaʻi, Maui và đảo Hawaii;

– H b. ssp. mokuleianus, được tìm thấy trên đảo Kauai và dãy Waiʻanae trên Oʻahu. 

H. brackenridgei đang được coi là loài có nguy cơ tuyệt chủng bởi USFWS. Hoa màu vàng của loài này được công nhận là hoa tiểu bang chính thức của Hawaii vào ngày 6 tháng 6 năm 1988. Mặc dù bị gán mác là có nguy cơ tuyệt chủng ngay trong môi trường sống tự nhiên, nhưng H. brackenridgei vẫn đã và đang trở thành một vật trang trí phổ biến tại các bãi cỏ ở Hawaii.

Loài dâm bụt Hibiscus clayi

Hibiscus clayi O.Deg. & I.Deg. là một loại cây bụi đặc hữu hoặc cây nhỏ có hoa màu đỏ tươi, nói chung tương tự như H. kokio, được tìm thấy mọc tự nhiên trên đảo Kauaʻi trong các khu rừng khô. Nó cũng được liệt kê là loài có nguy cơ tuyệt chủng bởi USFWS.

Hình ảnh cho Hibiscus furcellatus

Hibiscus furcellatus Desr. là một cây dâm bụt có hoa màu hồng và được coi là một loài bản địa, thường được tìm thấy ở các khu vực thấp và đầm lầy tại vùng Caribe, Florida, Trung và Nam Mỹ và Hawaii, nơi nó được gọi là ʻakiohala, ʻakiahala, hau helehau hele wai.

Hibiscus kokio quyến rũ

Hibiscus kokio Hillebr.; tên bản địa là Kokiʻo hoặc kokiʻo ʻula ( “kokiʻo đỏ” ) là một loại cây bụi hoặc cây nhỏ cao 3,7 m với hoa màu đỏ đến cam ( hiếm khi vàng ). Loài đặc hữu này tuy không được liệt kê chính thức, nhưng vẫn được coi là loài hiếm trong tự nhiên. Hai phân loài được công nhận là: 

– H. kokio ssp. kokio được tìm thấy trong các khu rừng khô đến ẩm ướt ở Kauaʻi, Oʻahu, Maui và có thể Hawaii ở độ cao 70 – 800 m.

– H. k. ssp. Saintjohnianus được tìm thấy ở phía tây bắc Kauaʻi ở độ cao 150 – 890 m.

Ngắm nhìn Hibiscus tiliaceus

Hibiscus tiliaceus L.; là một loại cây bụi hoặc cây phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là ở các khu vực ven biển. Loài này có thể là loài bản địa của Hawaii, nhưng cũng có thể đã được giới thiệu sớm bởi những dân cư đến từ Polynesia ( tiếng Việt: Pô-li-nê-di hay Đa Đảo ) – một phân vùng của châu Đại Dương, gồm khoảng trên 1.000 đảo ở phía trung và nam Thái Bình Dương.

Hoa dâm bụt đẹp nhất, loài Hibiscus waimeae

Hibiscus waimeae A.Heller; hay kokiʻo keʻokeʻo hoặc kokiʻo kea ( “kokiʻo có màu trắng như tuyết” ), là một loài cây đặc hữu của Hawaii, cao từ 6 – 10 m, với những bông hoa trắng phai màu dần sang hồng vào buổi chiều. Hai phân loài được công nhận là:

– H. waimeae ssp. hannerae ( hiếm và được coi là có nguy cơ tuyệt chủng ) được tìm thấy ở các thung lũng phía tây bắc của Kauaʻi.

– H. w. ssp. waimeae xuất hiện ở hẻm núi Waimea và một số thung lũng phía tây đến phía nam trên đảo Kauaʻi. Loài này gần giống với H. arnottianus về một số đặc điểm.

4. Các loài hoa hiếm và đẹp – Quỳnh hoa

Quỳnh hoa hay còn gọi là hoa quỳnh ( danh pháp khoa học là Epiphyllum oxypetalum (DC.) Haworth ) là một loài thực vật có hoa thuộc chi Epiphyllum trong họ Xương rồng Cactaceae. Loài này được (DC.) Haw. mô tả khoa học đầu tiên năm 1829. Tên gọi thông thường của loài cây này là Dutchman’s pipe cactus ( xương rồng ống của người Hà Lan ), princess of the night ( công chúa của màn đêm ), queen of the night ( nữ hoàng của màn đêm ). Được biết đây là loài được trồng nhiều nhất trong chi Epiphyllum. Quỳnh hoa rất hiếm khi nở hoa và thường chỉ nở vào ban đêm, rồi héo tàn trước khi bình minh tới. Mặc dù đôi khi nó được gọi là night-blooming cereus – xương rồng khế nở về đêm, nhưng lại không liên hệ gần với bất kỳ loài nào trong tông Cereeae, chẳng hạn như chi Selenicereus, cũng thường được gọi là night-blooming cereus. Xương rồng khế dù nở hoa vào ban đêm nhưng là thực vật trên cạn, còn các loài trong chi Epiphyllum thường là thực vật biểu sinh.

Quỳnh hoa – nữ hoàng của màn đêm

Ở Ấn Độ, E. oxypetalumis được gọi là Iruludavare ( ಇರುಳುದಾವರೆ ) trong tiếng Kannada, có nghĩa là “night lotus – hoa sen đêm”. Ngoài ra, ở Ấn Độ, nó cũng được gọi là Brahma Kamalam ( ब्रह्म कमल / ब्रह्मकमळ ) trong tiếng Phạn, được đặt theo tên của vị thần sáng tạo trong Ấn Độ giáo, Brahma. Người ta tin rằng những điều mong ước của những người cầu nguyện với thần linh trong khi hoa đang nở sẽ được tại nguyện. Ngoài ra, nó được gọi là Gulebakavali trong tiếng Tamil cổ đại và hoa Kadupul ở Sri Lanka ( hoa bản địa Sri Lanka ).

Chengyu của Trung Quốc ( đặc ngữ 4 chữ ) 曇花一現 ( tán huā yī xiàn – nghĩa Hán Việt là “đám hoa nhất hiện” có nghĩa là hoa chỉ nở thoáng qua, nghĩa bóng là “xuất hiện chốc lát, ngắn ngủi nhất thời” ) sử dụng chủ thể là quỳnh hoa ( tan-hua; 曇花 ) để mô tả một ai đó có khoảng khắc xuất hiện cực kì huy hoàng ấn tượng nhưng lại vô cùng ngắn ngủi, vì Epiphyllum oxypetalum có thể chỉ nở một lần một năm trong một vài ngày. Do đó, một người được mô tả là “曇花一現” thường được hiểu là một người thích khoe khoang hoặc bất ngờ đạt được một số thành tựu nào đó khi đó là một ngoại lệ hoặc chỉ là do may mắn. Loài hoa này cũng có một lịch sử phong phú ở Nhật Bản, nơi nó được gọi là 下 ( Gekka Bijin ) hoặc “Beauty under the Moon – Vẻ đẹp dưới ánh trăng”. Ở Sri Lanka, nó được gọi là “Kadupul” ( කඩුපුල් ) có nghĩa là flower from heaven – hoa từ thiên đường. Ở Indonesia, nó được gọi là “Wijaya Kusuma” có nghĩa là “Flower of Triumph – Hoa của niềm vui chiến thắng”.

Hoa có dạng hình giống kèn Trumpet, cuống phủ một màu đỏ cam, với những chiếc gai nhỏ, ngắn. Quỳnh hoa thường nở vào khoảng tháng 6, tháng 7 và chỉ nở duy nhất một đêm, từ 3 – 4 tháng sau có thể ra hoa một đợt nữa. Cánh hoa mỏng, mềm mại, bề mặt như phủ sáp trong sắc trắng với nhị vàng và hương thơm nhẹ nhàng. Khi hoa nở, cánh từ từ hé mở cho đến khi đạt kích thước tối đa ( đường kính khoảng 10 – 20 cm ), rồi cụp dần và tàn đi nhanh chóng ( trong khoảng 1 – 2 giờ ).

5. Phong lan ma

Dendrophylax lindeniiex (Lindl.) Benth.  Rolfe ( tên tiếng Việt là Dạ Hương lan, tên tiếng anh là ghost orchid – phong lan ma – một tên gọi chung cũng thấy được sử dụng cho loài Epipogium aphyllum ) là một loài thực vật có hoa trong họ Lan Orchidaceae. Loài này được (Lindl.) Benth. ex Rolfe mô tả khoa học đầu tiên năm 1888. Được biết phong lan ma có nguồn gốc từ Florida và Cuba. Tên phổ biến khác của loài bao gồm palm pollywhite frog orchid ( phong lan ếch trắng ). 

Hình ảnh cho phong lan ma

Tính ngữ chỉ loài lindenii được đặt theo tên người phát hiện ra nó, nhà sưu tầm thữ vật người Bỉ Jean Jules Linden, người đã tìm thấy loài phong lan này lần đầu tiên ở Cuba vào năm 1844. Về sau nó cũng được phát hiện ở Everglades ở Florida. Được biết chi Dendrophylax trước đây được gọi là Polyrrhiza.

Dendrophylax lindenii là một loài thực vật biểu sinh trong tông Vandeae, thuộc phân họ Epidendroideae. Cây trong tự nhiên gần như không có lá, rễ mọc ra từ các đốt thân rất ngắn chồng lên nhau, tạo thành một búi rễ bám trên thân cây chủ. Thường chỉ có thể tìm được phong lan ma trong các vùng đầm lầy ẩm thấp miền Nam Florida, Cuba, và quần đảo Caribbean.

Khác với đa phần các loài thực vật một lá mầm khác, để thích nghi với điều kiện môi trường có độ ẩm cao, hàm lượng dinh dưỡng thấp, cường độ ánh sáng thấp, phong lan ma đã hạn chế sự phát triển của bộ lá, quang hợp kiểu CAM và dự trữ chất dinh dưỡng ngay tại hệ thống rễ để giảm thiểu chi phí năng lượng cho quá trình vận chuyển rễ – lá. Trên rễ có các “track mark” màu xám trắng đặc trưng, thuật ngữ chuyên môn gọi chúng là pneumatodes, được cho là có một phần chức năng giống như khí khổng, cho phép rễ quang hợp ( photosynthetic root ) thực hiện trao đổi khí cần thiết cho quá trình hô hấp và quang hợp. Lục lạp trong những búi rễ dẹt này thực hiện gần như toàn bộ quá trình quang hợp của cây. Lớp ngoài cùng của rễ là một ví dụ về căn mạc ( Velamen ) điển hình của hầu hết các loài lan biểu sinh. Chức năng của nó bao gồm sự hấp thụ các chất dinh dưỡng và nước, đồng thời tiếp nhận ánh sáng cho quá trình quang hợp.

Loài này hiện đang bị đe dọa trong tự nhiên và việc nhân giống nó đã theo tìm hiểu là cực kỳ khó khăn. Nhưng có một điều đặc biệt là trong khi hầu hết mọi nỗ lực nuôi trồng cây con thành cây trưởng thành theo phương pháp nuôi cấy vô trùng đều cho các kết quả thất bại, thì một số nhà trồng lan thực tế lại thành công nhưng tất cả vẫn chưa được kiểm chứng rõ ràng. Được biết loài lan này được liệt vào Phụ lục II của Công ước CITES và được bảo vệ hoàn toàn bởi luật pháp tiểu bang Florida, ngăn cấm các hành vi loại bỏ nó khỏi tự nhiên. Các cây được thu hái đem về từ tự nhiên thường không sống nổi khi bị loại bỏ khỏi môi trường sống và sẽ chết trong vòng một năm. Trong tự nhiên, Dendrophylax lindenii thường mọc trên thân cây chính hoặc các nhánh chính lớn của cây chủ còn sống, đa phần là thích sống trên cây Na biển Annona glabra ( pond-apple ), hoặc đôi khi là cây Fraxinus caroliniana ( pop ash ). 

Dendrophylax lindenii ra hoa vào giữa tháng Sáu và tháng Tám, thường sẽ là một đến mười bông hoa thơm nở ra cùng một thời điểm. Hoa sắc trắng, rộng 3 – 4 cm và dài 7 – 9 cm, được sinh ra trên các gai phát sinh từ búi rễ, hương thơm mãnh liệt nhất của hoa là vào sáng sớm. D. lindenii có cánh môi ( labellum ) đặc biệt, với hai tua bên dài, xoắn nhẹ xuống dưới, giống như chân sau của một con ếch đang nhảy. Lá bắc khô xác và mỏng như giấy. Rễ của loài phong lan này được ngụy trang cực tốt trên những cây lớn đến nỗi khiến bông hoa dường như đang lơ lửng giữa không trung, do đó mà nó có tên là “phong lan ma“.

Trong giới trồng lan tại Mỹ, vì độ “hiếm” và độ “khó” ở mức cao nhất trong số các loài lan, việc trồng thành công Phong lan ma cho đến lúc có hoa được coi là một thành công rất lớn. Việc cấm buôn bán trên thị trường càng làm nóng nhu cầu của người trồng lan. Đặc biệt là sau sự ra đời của 2 tác phẩm lớn là “Kẻ trộm hoa lan” ( The Orchid Thief ) và bộ phim Adaptation kể về niềm cuộc đời thú vị của John Laroche, một thợ săn hoa lan hiện đại.

Trên đây là tổng hợp các loài hoa hiếm và đẹp ( Phần 1 ) cho bạn đọc tham khảo. Bài viết được tham khảo từ wikipedia và các bài viết khác nên còn một số sai sót. Mong bạn đọc góp ý để shop dần hoàn thiện bài viết các loài hoa hiếm và đẹp hơn nữa trong tương lai. Chân thành cảm ơn bạn đọc.

Back To Top