skip to Main Content
Top 7 Loài Hoa Bốc Mùi Nhất Quả đất Cho Bạn đọc Tham Khảo

Top 7 loài hoa bốc mùi nhất quả đất cho bạn đọc tham khảo

Top 7 loài hoa bốc mùi thối kinh tởm thách thức những “bộ mũi” siêu thính sẽ được giới thiệu ngay dưới đây.

Vâng, đã là hoa thì chúng thường lôi cuốn chúng ta bởi vẻ đẹp và cũng như bởi mùi hương. Nhưng lại ở đâu đó sinh ra một số loài cũng có cho hoa đẹp đấy nhưng mùi chả dễ chịu tí nào, thậm trí còn bị so ngang với mùi thịt thối, hay vừa xấu vừa thối không thể chịu nổi. Khỏi phải nói khi mục đích là để hấp dẫn các loài ăn xác thối đến thụ phấn. Cùng điểm danh top 7 loài hoa bốc mùi nhất thế giới ngay nhé.

Nhắc nhỏ: Chú ý giữ mũi của bạn nhé.

1. Cây hoa xác thối Amorphophallus titanum 

Hình ảnh cho hoa xác thối

Loài hoa này có tên gọi là hoa xác thối do chính mùi hương và màu sắc của hoa giống như thịt thối ( tiếng Indonesia: bunga bangkai – bunga nghĩa là hoa, bangkai mang nghĩa là xác chết, xác thối hoặc tử thi ). Được biết cây có nguồn gốc từ các khu rừng nhiệt đới ở Trung tâm Sumatra ( phía Tây Indonesia ), hiện nó được gìn giữ và bảo quản tại Vườn Bách thảo Hoàng Gia Kew, Anh.

Khi ngửi hay hít phải “hương thơm” của nó, chắc hẳn bạn sẽ khó lòng có thể quên ngay được. Tuy không sinh ra để làm thú vui cho “mũi người” nhưng mùi hương này của hoa lại có tác dụng thu hút côn trùng thụ phấn như ruồi nhặng – những con ruồi thích “đánh chén” xác thối.

2. Top 7 loài hoa bốc mùi – Cây Rafflesia arnoldii

Được biết Rafflesia arnoldii là một loài thực vật có hoa trong họ thực vật kí sinh Rafflesiaceae. Loài cây này được ghi nhận là ra hoa đơn tính lớn nhất trên Trái Đất. Nó có mùi hôi rất nồng nặc và khủng khiếp giống như mùi thịt thối rữa, vì thế cây có biệt danh là “hoa xác chết”. Đây là loài đặc hữu ở rừng mưa Sumatra và có thể là cả Borneo, được R.Br. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1821.

Rafflesia arnoldii ( tiếng Indonesia: padma raksasa ), còn được gọi là Kerubut ( devil’s betelnut box – Hộp cau của quỷ ) là một trong ba quốc hoa của Indonesia, hai loài còn lại là nhài trắngphong lan mặt trăng Phalaenopsis amabilis. R. arnoldii chính thức được công nhận là “hoa hiếm” quốc gia ( tiếng Indonesia: puspa langka ) trong Nghị định Quốc gia Số 4 năm 1993.

Hình ảnh cho Raffesia arnoldii

a. Khám phá

Nhà thực vật học đầu tiên tìm thấy một mẫu của chi Rafflesia là nhà thám hiểm người Pháp Louis Auguste Deschamps ( 1765 – 1842). Ông là thành viên trong đoàn thám hiểm khoa học Pháp sang Châu Á và Thái Bình Dương. Trong chuyến thám hiểm ông đã dành ba năm ở Java, nơi ông thu thập mẫu vật về thứ mà chúng ta gọi là R. patma ngày nay vào năm 1797. Trong chuyến trở về năm 1798, tàu của ông bị người Anh chiếm đoạt bởi nước này đang có chiến tranh với Pháp, toàn bộ giấy tờ và ghi chép của ông đều bị tịch thu. Năm 1954, chúng được tái phát hiện ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London.

Nhà thực vật học người Anh Joseph Arnold ( 1782 – 1818 ) và chính khách Sir Stamford Raffles ( 1781 – 1826, người sáng lập Singapore hiện đại ) đã thu thập một mẫu vật của một loài Rafflesia khác được tìm thấy bởi một người hầu Mã lai ở Sumatra ( Bengkulu ) vào năm 1818. Thật không may, Arnold đã lên cơn sốt và chết ngay sau đó khi đang phác thảo bản vẽ về phát hiện mới của mình. Lady Raffles, người cũng đã có mặt khi mẫu vật được thu thập, đã hoàn thành bản vẽ màu mà Arnold bắt đầu. Sau đó nó được gửi đến cho Joseph Banks, cùng với các tài liệu được bảo quản cẩn thận. Các kho dự trữ đã chuyển tất cả các tài liệu đó cho Robert Brown ( 1773 – 1858 ) tại Bảo tàng Anh và họa sĩ thực vật học thường trú của Kew Franz Bauer ( 1758 – 1840 ).

William Jack ( 1795 – 1822 ), người kế nhiệm Arnold ở Sumatra, nhận thức được rằng Deschamps, mặc dù bị mất đi các tài liệu ghi chú, vẫn có thể chính thức đề xuất một cái tên cho chi mới được phát hiện bất cứ lúc nào, ngay lập tức đã vội vàng phác thảo một mô tả để đảm bảo uy tín cho một nhà thực vật học người Anh đã không may ra đi. Bản phác thảo mô tả này có hiệu lực ngay lập tức, trong trường hợp có thông tin rằng người Pháp sắp xuất bản, trong khi chờ Bảo tàng Anh sản xuất một bản dịch được chuẩn bị tốt hơn.

Tên gọi chung, Rafflesia ( nhằm tôn kính Raffles ), do Brown đề xuất ( người ban đầu muốn gọi nó là Arnoldii ) sau Joseph Arnold, đã được S.F. Gray xác nhận trong bản báo cáo của mình trong cuộc họp vào tháng 6 năm 1820 tại Hội đồng Linnean ở London, sau đó được xuất bản trong cuốn “Biên niên sử Triết học” vào tháng 9 cùng năm đó. Loài Rafflesia arnoldii được mô tả chính thức lần đầu tiên vào năm 1821 bởi Brown. Và cuối cùng thì Arnold đã được tưởng niệm sau tất cả các phát hiện của ông.

b. Miêu tả

Raffesia arnodlii – loài hoa lớn nhất thế giới

Hoa Rafflesia arnoldii thường phát triển đến đường kính khoảng 1 m, nhưng có trường hợp số đo lớn nhất được thu thập từ một nguồn đáng tin cậy là 105 cm đối với một bông hoa tại Khu bảo tồn tự nhiên Palupah gần Bukittinggi, Sumatra do Giáo sư Syabuddin của Đại học Andalas tiến hành đo. R. arnoldi nặng tới 11 kg. Những bông hoa này nở ra từ những nụ rất lớn giống như cải bắp, màu nâu sẫm hoặc màu đỏ sậm rộng khoảng 30 cm. Đặc biệt nụ hoa lớn nhất từng được ghi nhận khi phát hiện ở Mount Sago, Sumatra vào tháng 5 năm 1956 với đường kính lên tới 43 cm. R. arnoldi sống kí sinh trên một vài cây dây leo thuộc chi Tetrastigma, và chỉ mọc trong các khu rừng mưa nguyên sinh ( chưa bị khai thác ). Cây không có bất kỳ lá, thân hoặc thậm chí rễ có thể quan sát, nhưng vẫn được coi là một loài thực vật có mạch. Cây này không tạo ra lá, thân hoặc rễ và không có diệp lục. R. arnoldi chỉ có thể được nhìn thấy bên ngoài cây kí chủ khi tiến vào đã thời kỳ sinh sản. Phần duy nhất của Rafflesia arnoldi khiến nó được xác định giống như thực vật rõ ràng là những bông hoa, mặc dù chúng không bình thường vì có tỷ lệ cực lớn, có màu nâu đỏ và mùi thịt thối rữa. Mùi hương này thu hút côn trùng như ruồi sau đó thụ phấn cho cây. Chú ý không nên nhầm lẫn với titan arum, Amorphophallus titanum, cũng thường được gọi là “hoa xác chết” vì mùi kinh khủng của nó.

c. Sinh sôi nảy nở

Rafflesia arnoldii rất hiếm và khá khó xác định vị trí chính xác trong tự nhiên, nhất là ở trong rừng, vì chồi hoa phải mất nhiều tháng trời để phát triển và hoa chỉ tồn tại trong vài ngày. Hoa đơn tính và do đó sự gần nhau của hoa đực và hoa cái vô cùng quan trọng để có thể thụ phấn thành công. Chính những yếu tố này làm cho sự thụ phấn thành công là một sự kiện hiếm thấy.

Khi Rafflesia sẵn sàng sinh sôi nảy nở, một chồi nhỏ xíu mọc lên bên ngoài rễ hoặc gốc của vật chủ và phát triển trong khoảng một năm. Đầu nụ giống như bắp cải cuối cùng nở để lộ hoa bên trong. Đầu nhụy hay nhị được gắn vào một đĩa có mấu nhọn bên trong hoa. Voi cũng có ảnh hưởng đến sự thụ phấn của hoa và loại thụ phấn này được gọi là Elephophily. Theo Andreas Jürgens, nhà nghiên cứu tại Đại học KwaZulu – Natal ở Nam Phi, mùi hôi mà những loài như Rafflesia tỏa ra còn có khả năng thu hút những loài côn trùng như ruồi và bọ cánh cứng, sau đó côn trùng sẽ giúp hoa thực hiện việc thụ phấn. Theo ông Robert Raguso, nhà sinh thái hóa học tại Đại học Cornell, New York, Rafflesia arnoldii còn có khả năng tạo ra nhiệt khi phát ra mùi hôi nhằm thu hút côn trùng, vì vậy chúng hoạt động như một cái bẫy ruồi để đảm bảo thụ phấn vẫn diễn ra bình thường. Hoa chỉ có khả năng sống khoảng một tuần ( từ 5 – 7 ngày tuổi ) sau đó sẽ khô và chết.

3. Cây bắp cải chồn hôi Tây Lysichiton americanus

Lysichiton americanus Hultén & H.St.John là một loài thực vật có hoa trong họ Ráy ( Araceae ). Loài này được Hultén & H.St.John mô tả khoa học đầu tiên năm 1931. Cây thường được biết đến với các tên gọi như western skunk cabbage ( bắp cải chồn hôi Tây – Mỹ ), yellow skunk cabbage ( bắp cải chồn hôi vàng – Anh ), American skunk cabbage ( bắp cải chồn hôi Mỹ – Anh và Ireland ) hoặc swamp lantern ( tạm dịch đèn lồng đầm lầy ), là một loại cây được tìm thấy trong đầm lầy và rừng ẩm ướt , dọc theo sông và các khu vực ẩm ướt khác của Tây Bắc Thái Bình Dương. Cây được gọi là bắp cải chồn hôi vì phát ra mùi khó chịu như phản ứng tự vệ của loài chồn hôi trong tự nhiên khi ra hoa. Mùi này sẽ thấm vào khu vực mà cây phát triển, và có thể được phát hiện ngay cả trong các mẫu vật khô, cũ. Mùi đặc biệt thu hút ruồi nhặng và bọ cánh cứng đến thụ phấn. Mặc dù được đặt tên tương tự và có mùi tương tự, loài cây này lại rất dễ phân biệt với bắp cải chồn hôi Đông Symplocarpus foetidus, một loài khác trong họ Ráy được tìm thấy ở miền đông Bắc Mỹ.

Hình ảnh cho bắp cải chồn hôi Tây

a. Đặc điểm

Cây phát triển từ thân rễ có chiều dài khoảng 30 cm hoặc dài hơn và đường kính lên tới 2,5 đến 5 cm. Những chiếc lá tuy có cuống ngắn nhưng lại là những chiếc lá to nhất trong số các loài cây bản địa, dài từ 30 – 150 cm và rộng 10 – 70 cm khi trưởng thành. Mo hoa lớn, rộng 7 – 12 cm, màu vàng sáng hoặc vàng xanh trên đỉnh với cuống dài 30 – 50cm. Hoa nhiều và dày đặc. Được biết đây là loài hoa đầu tiên nở vào cuối mùa đông hoặc đầu mùa xuân. Nhưng không giống như chi Symplocarpus ( bao gồm S. foetidus, bắp cải chồn hôi đông ), hoa của các loài trong chi Lysichiton không có khả năng sinh nhiệt.

b. Phân bố

L. Americanus được tìm thấy ở Quần đảo Kodiak và Cook Inlet, miền Nam Alaska qua British Columbia, Washington, Oregon và Bắc California ( tận phía nam như hạt Santa Cruz ). Các quần thể biệt lập cũng được tìm thấy ở phía đông bắc Washington, bắc Idaho, Montana và Wyoming. 

Loài cây này được đem về trồng ở Vương quốc Anh vào năm 1901 và nghiễm nhiên trở thành loài bản địa không chính thức tại các vùng đầm lầy ở Anh và Ireland, ví dụ ở Hampshire và Surrey, bao gồm cả Wisley Gardens, cũng thấy ở phía bắc và phía tây của Vương quốc Anh. Năm 2016, nó được Liên minh châu Âu xếp vào loại thực vật xâm lấn không bản địa.

c. Ứng dụng

Trong khi một số người coi loài này là một loại cỏ dại không hơn không kém, thì rễ của nó lại là thức ăn cho gấu. Được biết lũ gấu ăn chúng sau khi ngủ đông như một loại thuốc nhuận tràng hoặc thuốc tẩy nhẹ. Cây được người bản địa sử dụng làm thuốc trị bỏng và thương tích, ngoài ra còn lấy làm thực phẩm trong thời kỳ đói kém, khi hầu hết tất cả các bộ phận đều có thể ăn được. Lá có vị hơi cay. Giống như đã phần các loài trong họ Ráy, bắp cải chồn hôi Tây độc vì nó chứa tinh thể canxi oxalate, dẫn đến cảm giác kiến bò ở lưỡi và cổ họng, nặng hơn có thể dẫn đến kích ứng ruột và thậm chí tử vong nếu tiêu thụ với số lượng lớn. 

4. Top 7 loài hoa bốc mùi Hoa sao biển thối Stapelia gigantea

Hình ảnh cho hoa sao biển thối

Hoa sao biển thối còn có các tên gọi khác như hoa cóc ghẻ, hoa Zulu khổng lồ ( tên khoa học là Stapelia gigantea ), là một loài thực vật có hoa có nguồn gốc ở Nam Phi, được trồng chủ yếu làm cảnh. Hoa của nó khá to, có thể đạt đường kính lên tới 30 cm. Thân của loài hoa này giống như thân cây xương rồng. 

Hoa trông giống như con sao biển và thường nở vào tháng 9 hàng năm. Những bông hoa này có mùi thối đặc trưng của thịt thối rữa, các màu sắc cũng khác nhau, hoa màu da được bao phủ bởi các sợi lông nhỏ màu trắng có tác dụng thu hút ruồi và thụ phấn.

5. Loài Hydnora Africana

Hình ảnh cho Hydnora africana

Thực vật ký sinh Hydnora Africana có nguồn gốc từ các sa mạc khô cằn ở miền Nam châu Phi, phát triển hoàn toàn dưới lòng đất. Loài này sống nhờ vào gốc rễ của các cây thuộc chi Thầu dầu Euphorbia. Hoa có màu đỏ thịt, nhú lên từ cát, những con bọ ăn phân màu đen luôn bị thu hút bởi mùi thối kinh khủng của loài hoa đặc biệt này. 

Điểm thú vị khác ở loài hoa này là nó có hình dáng giống như “cái ấy” của phụ nữ.

6. Top 7 loài hoa bốc mùi – Hoa huệ ngựa chết Helicodiceros muscivorus

Món ăn khoái khẩu của loài nhặng

Hoa huệ ngựa chết là một loài cây cảnh có nguồn gốc phía Tây Bắc khu vực Địa Trung Hải. Hoa của nó mô phỏng lại phần mông của một con ngựa đang tỏa ra mùi thịt thối rữa, thu hút các con côn ruồi đến để thụ phấn. Những chú ruồi tham ăn sẽ bị thu hút, lôi kéo vào sâu bên trong hoa rồi bị mắc kẹt lại trong đó một ngày. Được biết đây cũng là loài có khả năng sinh nhiệt hiếm hoi trong thế giới thực vật. Mặc dù tỏa ra mùi hương không hề dễ chịu nhưng đây là loài hoa cảnh vô cùng nổi tiếng và được nhân giống ở nhiều nơi.

7. Bắp cải chồn hôi Đông Symplocarpus foetidus

Bắp cải chồn hôi Đông ( danh pháp khoa học Symplocarpus foetidus, đồng nghĩa Dracontium foetidum L.; Ictodes foetidus (L.) Bigelow; Pothos foetidus (L.) Aiton ) là một loài thực vật có hoa trong họ Ráy Araceae. Loài này được (L.) Salisb. ex W.Barton miêu tả khoa học đầu tiên năm 1817. Loài này được biết đến với các tên như skunk cabbage ( bắp cải chồn hôi ) hoặc eastern skunk cabbage, cũng thấy một số tên khác như swamp cabbage ( bắp cải đầm lầy ), clumpfoot cabbage, hay meadow cabbage, foetid pothos hoặc polecat weed ( Cỏ chồn nâu ). Được biết đây là một loại cây thấp, hay mọc ở các khu vực đầm lầy và sườn đồi ẩm ướt ở phía đông Bắc Mỹ. 

Hình ảnh cho bắp cải chồn hôi Đông

a. Đặc điểm thực vật

Symplocarpus foetidus sở hữu những chiếc lá lớn màu xanh với chiều dài lên tới 40 – 55 cm và rộng 30 – 40 cm, thường xuất hiện sau khi cây đã ra hoa. Cây ra hoa vào đầu mùa xuân và xuất hiện phía trên bùn. Bông mo dài 5 – 10 cm phía trong mo cao 10 – 15 cm với các đốm màu tím. Thân rễ ngầm dày 30 cm.

b. Phân bố

Như đã nhắc ở trên, bắp cải chồn hôi có nguồn gốc từ miền đông Bắc Mỹ. Cây xuất hiện chủ yếu từ Nova Scotia đến tây nam Quebec đến Minnesota. Ngoài ra còn thấy từ nam đến bắc Carolina và Tennessee. 

c. Sinh thái học

Xé một chiếc lá của cây sẽ tạo một mùi hăng nhưng vô hại. Gọi là bắp cải chồn hôi vì cây này phát ra một mùi hương như của loài chồn hôi khi ra hoa thu hút các loài ruồi nhặng, ruồi đá và ong đến thụ phấn. Mùi phát ra từ lá cũng có thể khiến cho các loài động vật lớn không dám bén mảng hoặc làm hỏng loại cây này trong các khu đất ngập nước

Bắp cải chồn hôi gây chú ý vì khả năng sinh nhiệt lên tới 15 – 35oC so với nhiệt độ không khí xung quanh chúng bằng cách hô hấp tế bào kháng xyanua. Trong một thí nghiệm, bắp cải chồn hôi có nhiệt độ phần hoa là 24oC, cao hơn nhiệt độ không khí 9oC. Khi nhiệt độ ngoài trời hạ xuống -15oC, nhiệt độ bông hoa vẫn giữ nguyên.

Bắp cải chồn hôi Đông làm tan băng đáng kinh ngạc

Bằng chứng cho thấy là chúng đã làm tan chảy lớp băng trên mặt đất, khiến nó trở thành một loài đặc biệt khi ra hoa lúc băng chưa tan. Nhiệt lượng khiến hương hoa trở nên linh động hơn, giúp mùi hương lan rộng và côn trùng thụ phấn có thể tìm thấy vị trí cây từ xa. Ngoài ra, nhờ hơi nóng, các loài cây sinh nhiệt cũng trở nên hấp dẫn hơn với những côn trùng thích sự ấm áp.

Một số loài ruồi nhặng, chẳng hạn như loài Calliphora vomitoria, được biết đến là loài thụ phấn của bắp cải chồn hôi Đông.

Trên đây là bài tổng hợp kiến thức về top 7 loài hoa bốc mùi nhất quả đất. Nội dung bài viết có tham khảo từ Wikipedia và các nguồn uy tín khác nên có chút sai sót. Mong bạn đọc góp ý kiến ạ.

Back To Top