skip to Main Content
Bệnh Thối Nhũn Trên Mít

Sâu bệnh trên cây mít và cách phòng tránh

Sâu bệnh trên cây mít vốn tuy không phổ biến nhưng cũng cần phải có các biện pháp để phòng trừ kịp thời. Bởi xu hướng đổ xô đi trồng các giống mít ngon như giống mít Thái siêu sớm, mít ruột đỏ, mít nghệ tứ quý… mà không có hướng dẫn cụ thể và không hề tuân thủ theo các quy trình trồng đang dẫn đến nhiều bất cập như sâu bệnh hại trên mít trước kia vốn không thấy nay càng có cơ hội quay lại và xuất hiện dày đặc gây rất nhiều khó khăn cho các nhà vườn. Nhất là trong giai đoạn mít còn non thì rất dễ bị tổn thương bởi khả năng lây lan nhanh từ cây này sang cây khác của chúng. “Chúng” ở đây chính là 4 kẻ thù phổ biến trên vườn mít mà bạn phải có kế hoạch phòng trừ để tránh trường hợp tiền mất tật mang. Vậy cùng tìm hiểu những chủng loại này qua bài viết dưới đây nhé.

1. Bệnh thối gốc chảy nhựa

a. Tác nhân gây hại

Bệnh thối gốc chảy nhựa trên cây mít

Vào mùa mưa, quan sát dưới gốc thân, hoặc trên cành lớn của cây mít thì thấy có hiện tượng hay bị chảy nhựa mủ màu nâu đỏ. Khi tiến hành bóc lớp vỏ ở chỗ bị bệnh sẽ thấy phần gỗ phía dưới có màu hồng nhạt cùng những đốm màu hơi tím, viền gợn sóng. Nếu không phát hiện sớm và chữa trị kịp thời bệnh sẽ lan rộng ra xung quanh, sau vài tháng có thể bao kín hết cả chu vi gốc ( cộng cả chỗ bị bệnh), khiến cho rễ bị thối, mà rễ một khi bị thối thì lúc này lá trên ngọn bị vàng và rụng, sau đó các lá phía dưới cũng bị vàng và rụng theo dần dần làm cây bị chết rất nhanh. Nấm bệnh cũng có thể khiến trái bị thối. Nguyên nhân gây bệnh được xác định là do cây bị nhiêm nấm Phytophthora palmivora ( thuộc họ Pythiaceae nằm trong Chi Phytophthora ). Loài này được E.J.BulterE.J.Bulter miêu tả khoa học đầu tiên năm.

Hình ảnh nấm P.palmivora

Bệnh thường gây hại nhiều trong mùa mưa, với những vườn đất thấp ẩm ướt, cỏ rác, lá cây…chất đống xung quanh vùng gốc, làm cho vùng gốc luôn trong trạng thái độ ẩm cao, hoặc những vườn trồng quá dày, tán lá rậm rạp, bít bùng thường là những vườn bị bệnh gây hại nhiều nhất. Do cùng là kí chủ của nấm P. palmivora nên những cây mít trồng lẫn trong các vườn sầu riêng, cạnh những vườn tiêu…cũng là những điểm đến lí tưởng cho loài này hơn hẳn các cây khác. Và thường khi phát hiện được thì bệnh đã ở trong tình trạng nặng, rất khó chữa trị. 

b. Biện pháp phòng trừ

– Cách phòng hữu hiệu nhất là trồng cây trên nền đất cao ráo, thoát nước tốt. Vệ sinh vườn, tiến hành thu gom sạch thân, cành, lá rơi dưới đất và nhất là rễ của cây trồng cũ trong vườn, đặc biệt là với những cây bị bệnh phải được đem đi đốt.

– Phải lên luống cao, hình mai rùa để có thể thoát nước tốt trong mùa mưa. Ở những vùng đất thấp phải có hệ thống bờ bao xung quanh để có thể kịp thời bơm nước ra khỏi vườn khi cần thiết để đảm bảo vườn luôn luôn được khô ráo.

– Bón phân cân đối, với những vườn cây đang bị bệnh cần giảm bớt lượng phân đạm. Nếu bị bệnh nặng có thể ngưng hẳn việc bón phân đạm lại, chờ đến khi hết bệnh mới bón đạm trở lại, đồng thời bón bổ sung thêm phân lân và kali.

– Kiểm tra vườn cây thường xuyên để phát hiện sớm chỗ bị bệnh khi chúng còn chưa lan rộng. Dùng dao tách cạo bỏ hết phần vỏ để làm sạch chỗ bị bệnh (nhớ thu gom chỗ vỏ bị bệnh vừa cạo ra khỏi vườn và tiêu huỷ). Rồi dùng 30 gram thuốc Alpine 80 WG, hay 50 gram thuốc Mexyl MZ 72 WP pha trong một lít nước, lấy chổi hay cọ sơn nhúng nước thuốc quét lên chỗ bị bệnh vừa cạo và vùng lân cận.

– Phun và kết hợp tưới ngừa xung quanh gốc với các loại thuốc như Apine 80 WG, Mexyl MZ 72 WP. Có thể phun hoặc tưới lập lại sau 7 ngày nếu bệnh nặng hoặc phun và tưới định kỳ với các vườn mới trồng khi cây khoảng năm tuổi.  

Liều lượng sử dụng:

+ 100gram APINE 80 WG pha 30 lít nước phun ướt đều trên thân, cành, lá hoặc tưới cho 10-15 gốc.

+ 100gram Mexyl MZ 72 WP pha 25 lít nước phun ướt đều trên thân, cành, lá hoặc tưới cho 10 gốc.

Có thể kết hợp phun và tưới gốc, hoặc luân phiên thuốc giữa Alpine 80 WG và Mexyl MZ 72 WP.

2. Bệnh thối nhũn

Bệnh do nấm Rhizopus nigricans ( được phát hiện vào năm 1818 bởi nhà khoa học người Đức Christian Gottfried Ehrenberg, sau đó được đổi thành Rhizopus stolonifer bởi nhà nấm học người Pháp JP Vuillemin vào năm 1902 ) gây ra. Bệnh gây hại chủ yếu trên hoa và trái non, làm trái thối đen và rụng. Vết bệnh khởi đầu là đốm màu nâu đen, sau bệnh lan dần cả trái, làm cả trái bị thối đen.

Bệnh thối nhũn trên mít

a. Triệu chứng bệnh

Trên vết bệnh sản sinh ra các sợi nấm và túi bào tử màu đen mọc tua tủa. Khi nấm nảy mầm, nó tạo ra các loại este khác nhau , bao gồm cả cutinase , giúp nấm xâm nhập được vào thành tế bào thực vật. Bệnh có thể xuất hiện bất cứ vị trí nào của trái. Bệnh lây lan nhanh từ trái này sang trái khác. Và bệnh chỉ gây hại ở giai đoạn trái non như đã nhắc ở trên.

Tốc độ phát triển của bệnh rất nhanh. Ban đầu vết bệnh chỉ là một vài đốm nhỏ màu xám, sau đó cứ thế lan rộng dần ra xung quanh thành như vết dầu loang theo nhiều hướng, và sẽ lan rộng hơn theo chiều dọc trái. Vết thâm tạo thành viền mờ từ xám đến nâu nhạt ở tâm lan ra hết toàn bộ diện tích bề mặt vỏ trái chỉ sau khoảng một, hai tuần.

Vào giai đoạn cuối, trên vỏ trái bệnh chuyển hẳn sang màu đen rồi màu xám, quệt ngón tay có thể lấy ra thứ “bột” bào tử nấm. Soi trên kính lúp hay kính hiển vi thấy từ bề mặt vỏ trái mọc ra rất nhiều túi bào tử. Trong trường hợp nấm Rhizopus stolonifer đã hoàn tất sản sinh bào tử thì nước là con đường giúp phát tán chúng vào đất.

b. Điều kiện phát sinh bệnh

Bệnh phát triển nhiều trong điều kiện thời tiết nóng và mưa nhiều, vườn cây rậm rạp, đất ẩm thấp đọng nước. Sợi nấm sẽ sản sinh rất nhiều bào tử và lây lan rất nhanh trong điều kiện có gió, mưa. Nhiệt độ tối ưu cho sự tăng trưởng của nấm được xác định trong khoảng từ 25 – 30 °C. Đặc biệt Rhizopus stolonifer có thể phát triển trong môi trường axit với độ pH thấp tới 2,2 nên việc tăng độ chua là vô dụng với loài nấm này. Hay những vết thương trên quả do trầy xướt hay do ruồi đục quả gây ra tạo điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh xâm nhiễm gây hại nặng.

c. Biện pháp phòng trừ

Bệnh thối hoa, trái mít do nấm Rhizopus stolonifer gây ra thường gây hại nhiều trong điều kiện vườn trồng ẩm ướt, tán cây rậm rạp, không thông thoáng. Trong thời kỳ cây mít ra hoa, rất dễ bị nấm xâm nhập tấn công. Trên một cây có vài hoa, trái non nhiễm nấm thì sẽ tạo ra áp lực không nhỏ cho những trái còn lại. Khi hoa, trái non đã bị bệnh thì không có cách nào để chữa khỏi.

Do vậy chỉ còn cách duy nhất là hạn chế mầm bệnh. Để có thể hạn chế được gần như tối đa tác hại của bệnh phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa sau:

+ Chọn vùng đất đủ nước tưới ẩm, thoát nước tốt, vườn luôn thoáng đãng.

+ Trồng mít thưa, định kỳ (nhất là đầu mùa mưa) tỉa bỏ những cành nhỏ, cành tăm, mọc bên trong tán lá.

+ Vệ sinh vườn cây, thu gom những trái bệnh đem tiêu hủy. Chú ý loại bỏ những hoa mít đực đã khô.

+ Chọn giống ít nhiễm sâu, bệnh.

+ Bao trái lúc còn nhỏ.

+ Sử dụng kết hợp bộ đôi sản phẩm Calcium Boron và Sitto Fopro 12-3-43 với liều lượng 250ml Calcium Boron pha với 2-3 gói Sitto Fopro 12-3-43 (tùy vào tình trạng bệnh) phun từ lúc trái non đến khi lớn giúp phòng tránh bệnh thối đen trên quả mít.

+ Khi vườn bị bệnh thối trái nhiều và lặp lại hàng năm thì vào đầu vụ ra mít hoa nên phun xịt ngừa bằng một trong các loại thuốc diệt nấm như: Bemyl 50WP, Bendazol 50WP, Benotigi 50WP, Fundazol 50WP, Benzeb 70WP, Vimanco, Ridomil-Gold, Mataxyl.

3. Ruồi đục trái mít

a. Ruồi đục trái là gì ?

Bactrocera umbrosa gây hại trên mít

Ruồi đục trái trên mít được xác định là loài Bactrocera umbrosa ( Fabricius ). Loài này có phổ ký chủ giới hạn trong các giống mít. Trưởng thành của ruồi đục trái mít là một loài ruồi có kích thước khá lớn, lớn hơn cả ruồi nhà. Ruồi thường gây hại chủ yếu vào mùa mưa. Ruồi trưởng thành hoạt động ban ngày, có khả năng bay xa. Con cái dùng ống đẻ trứng chích vào vỏ trái đẻ trứng vào bên trong trái. Vết chích rất nhỏ nên khó nhìn thấy. Ấu trùng có màu trắng ngà ( hay còn gọi là dòi ), dài khoảng 9 – 10 mm, sống bên trong trái làm thối đi phần thịt trái. Khi đẩy sức, dòi chui ra khỏi trái rơi xuống đất hóa nhộng. Ruồi phá hại nhiều khi trái gần chín đến chín. Triệu chứng thể hiện trên trái mít có những đốm thối nâu, có nhiều chất nhựa đục chảy ra trên trái, ngay nơi bị hại mềm nhũn, dòi đục tạo những lổ nhỏ trên trái và bún mình ra khỏi trái. Dòi gây hại tạo điều kiện các vi sinh vật khác bội nhiễm nên làm trái mau thối. Chẻ bên trong thịt trái bị thối hư. Dòi có khả năng bún mình rất xa. Trên một trái mít thì có thể có hằng hà sa số con dòi cư ngụ.

b. Cách phòng trị

+ Thu hoạch kịp thời không để trái chín quá lâu trên cây;

+  Đem tiêu hủy những trái bị dòi gây hại để diệt dòi bên trong trái;

+  Khi ruồi trưởng thành phát sinh dùng thuốc dẫn dụ có chất Methyl Eugenol  để dẫn dụ và diệt ruồi đực hoặc phun bả Protein, chỉ nên phun thành đốm nhỏ trên tán cây. Nên phun vào khoảng 8 – 10 giờ sáng..

+ Không nên xịt thuốc hóa học trực tiếp lên trái để diệt dòi vì thường hiệu quả sẽ không cao và không đảm bảo độ an toàn cho người sử dụng.

* Biện pháp phòng trừ:

+ Vệ sinh vườn cây,  thu gom những trái bệnh đem tiêu hủy. Chú ý  loại bỏ những hoa mít đực đã khô.

+ Tỉa cành thông thoáng hơn.

+ Chọn giống ít nhiễm sâu, bệnh.

+ Bao trái lúc còn nhỏ.

+ Phát hiện bệnh mới chớm phun các lọai thuốc hóa học: Vimancoz, Ridomil- Gold,  Mataxyl.

4. Sâu đục thân cây mít

a. Sâu đục thân là gì ?

Sâu đục thân hay sâu đục cành hay sâu Bore là thuật ngữ chỉ về bất kỳ những con côn trùng hoặc nhện sống ký sinh ở thân cây, cành cây. Thông thường những loại sâu trùng này là đối tượng gây hại cho nông nghiệp đặc biệt là cây lương thực, cây công nghiệp và cây ăn trái. Gọi là sâu nhưng thực chất là ấu trùng của bọ cánh cứng có cặp râu dài cứng gồm rất nhiều đốt nối tiếp nhau, gọi chung là bọ Xén Tóc. Có rất nhiều loại xén tóc khác nhau, phân biệt theo kích thước, màu sắc, hoa văn trên cơ thể. Nhìn chung, tất cả các loại xén tóc đều gây hại với hình thức giống nhau chỉ khác nhau về đối tượng cây gây hại.

Ấu trùng của các loại xén tóc có hình dạng cũng tương tự nhau, đặc điểm chung của chúng là đầu to, cứng, có răng cứng để đục khoét sâu vào thân cây.

Ấu trùng xén tóc                                   

Bọ xén tóc thường đẻ trứng vào mùa mưa ( tức tháng 4 – 11) ở vị trí nách lá (đục cành, đục ngọn) tạo thành các vết sẹo mục, vết nứt trên thân, các góc tẻ cành (đục thân) hoặc các vết sẹo, vết nứt ở gốc cây (đục gốc, đục rễ). Thời gian hoạt động chính của bọ trưởng thành lúc trời mát, đặc biệt là chiều tối từ 18 – 21 giờ. Bọ trưởng thành sinh đẻ trong mùa sau đó chết đi, nhưng ấu trùng sẽ gây hại từ lúc mới nở đến khi hóa nhộng trong thời gian rất dài, có loài phải lên đến 24 tháng mới hóa nhộng cho nên vô cùng nguy hiểm cho nông nghiệp.

Sau khi nở, sâu non ( ấu trùng ) bắt đầu dùng mỏ đục xuyên qua lớp vỏ và tấn công vào phần gỗ bên trong, thường theo hướng từ trên xuống gốc, sự tấn công của sâu làm gián đoạn mạnh các mạch dẫn của cây, ngăn cản quá trình trao đổi chất theo 2 chiều trong thời gian dài và liên tục sẽ làm cây chết ở phần trên của vị trí bị ấu trùng tấn công. Vì vậy, xét về tính nguy hiểm thì sâu đục gốc và đục rễ sẽ dễ dẫn đến nguy cơ chết cây gây thiệt hại nghiêm trọng cho các vườn cây lâu năm.

b. Phòng ngừa sâu đục thân – ấu trùng xén tóc ( Cerambycidae )

– Thường xuyên thăm vườn vào mùa mưa để phát hiện kịp thời, thường xuyên theo dõi vườn cây vào đầu giờ sáng và chiều tối, bọ trưởng thành sẽ đậu trên cây để đẻ trứng, tìm bắt và diệt bọ mẹ để hạn chế sinh sản.

– Thường xuyên dọn cỏ xung quanh gốc để thuận tiện kiểm tra chăm sóc cây.

– Áp dụng bón phân một cách cân đối, tránh thừa quá nhiều đạm cây sẽ dễ thu hút sâu hại.

– Dùng bẫy đèn để bắt bọ trưởng thành (18 – 21 giờ). Nếu có điều kiện và đảm bảo an toàn thì nên trang bị bẫy điện chuyên dùng để diệt côn trùng để tăng hiệu quả diệt bọ.

– Sử dụng cành khô bó từng bó nhỏ đặt rải rác trong vườn để dẫn dụ bọ trưởng thành đến đẻ trứng.

– Nuôi kiến vàng.

– Thu gôm cành khô, cành gãy tập trng tiêu hủy, tránh để tồn động trong vườn sẽ sinh mùi thu hút bọ trưởng thành.

c. Điều trị bằng thuốc BVT

– Sử dụng các thuốc BVTV chứa các hoạt chất: Cartap, Carbosulfan, Fipronil, Clorantroniliprole + Thiametoxam. Pha theo nồng độ khuyến cáo của nhà sản xuất, phun ướt thân cây từ độ cao 1,5m xuống gốc. Phun 2 lần cách nhau 7-10 ngày để gây độc cho bọ trưởng thành khi đậu vào và diệt ấu trùng mới nở chưa kịp tấn công vào cây. Đối với sâu đục ngọn thì chỉ phun thuốc ở phần tán lá.

– Đối với sâu đục ngọn, đục cành: Cắt bỏ cành bị ấu trùng tấn công, chẻ ra bắt ấu trùng hoặc thiêu hủy để diệt ấu trùng. Lưu ý, các cành mới cắt còn nhiều nước khó cháy nên khi thiêu hủy phải đảm bảo đủ lửa để làm nóng bên trong để tiêu diệt ấu trùng.

– Trường hợp phát hiện trên thân cây có lỗ sâu đục, đùn mạc gỗ và phân sâu, chảy nhựa thì dùng kim tiêm bơm thuốc trực tiếp vào lỗ sâu đục. Sử dụng các loại thuốc phun đã nêu trên dạng đậm đặc.

– Trường hợp cây bị sâu gây hại quá nặng nên chặt bỏ cây đem tiêu hủy, đào cả rễ, đốt hoặc chẻ thân cành và rễ để loại bỏ hết ấu trùng đang còn sống để tránh ấu trùng tiếp tục phát triển thành bọ.

– Bắt và giết bọ trưởng thành để hạn chế số lượng trứng.

Lưu ý: Việc sử dụng bất kỳ sản phẩm thuốc BVTV nào đều phải tuân thủ quy tắc bảo hộ lao động để đả bảo an toàn cho người sử dụng và tuân thủ thời gian cách lý như khuyến cáo của nhà sản xuất để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.