skip to Main Content
Lá Bưởi Bị Hại

Sâu bệnh trên cây bưởi và cách phòng tránh ( Phần 2 )

Sâu bệnh trên cây bưởi đang hoành hoành ác liệt khiến nhiều nhà vườn trồng bưởi, nhất là trồng bưởi da xanh đang điêu đứng nhất là mùa thu hoạch gần tới. Nửa cuộc đời gắn bó với cây bưởi, do vậy muốn thu hoạch được những thương phẩm ngon, đẹp mắt thì không thể không đứng nhìn vườn bưởi bị sâu bệnh hại tàn phá được. Bưởi là cây rất dễ tổn thương trước dịch hại cho nên bản thân vườn ươm, mỗi khi nhìn thấy cây bưởi giống cong queo, ốm yếu thì thật là xót bởi cả đống tiền đổ vào đó đã ra đi không thương tiếc. Do vậy ngoài nắm bắt đúng kỹ thuật trồng ra thì cũng phải là chyên gia trong lĩnh vực sâu bệnh hại bưởi nữa. Phần 1 của chủ đề đã được chia sẻ với các bạn trong bài viết trước, còn phần 2 thì ngày hôm nay vườn ươm xin chia sẻ nốt với bạn đọc nhé. Rất mong bài viết có thể giúp các bạn phần nào đó để có một vườn bưởi bội thu.

Tóm tắt nội dung

1. Sâu đục vỏ trái bưởi (!)

Tên khoa học của loài: Prays citri

Họ Bướm đêm: Yponomeutidae

Bộ: Lepidoptera

a. Đặc điểm hình thái và gây hại của sâu đục vỏ trái Prays citri

Thành trùng là một loài bướm có kích thước rất nhỏ, mầu xám, chiều dài sải cánh khoảng 8mm. Ấu trùng có màu xanh đặc trưng.

Trong điều kiện tự nhiên trứng cảu loài này được đẻ trên bông và trái non. Sau khi nở, ấu trùng non đục vào trong phần vỏ của trái, ăn phá hoại phần vỏ trái. Sâu xâm nhiễm gây hại từ khi quả bưởi còn rất nhỏ, vết đục sâu tạo nên những u sần trên quả, nếu bị nặng quả sẽ yếu và rụng sớm. Nếu sâu đục quả gây hại muộn, quả sẽ không rụng ngay nhưng sẽ bị biến dạng mộ cách nặng nề bởi những u sần làm giảm giá trị thương phẩm. Sâu gây hại nhiều ở giai đoạn quả non, quả có vỏ dày như bưởi, cam sành, cam mật nhưng gây hại phổ biến nhất là trên cây bưởi. Đặc biệt chúng chỉ gây hại ở lớp vỏ quả, chứ không hại phần thịt quả ( múi, tép bưởi ) nhưng việc phòng tránh là vô cùng khó khăn.

Sâu đục vỏ trái bưởi

Sau khi hoàn thành giai đoạn phát triển, Sâu chui ra ngoài, kéo một lớp tơ mỏng làm kén và bắt đầu hóa nhộng trong kén trên những lá gần nơi trái bị đục hoặc có thể ngay cả trên trái. Trong điều kiện tự nhiên, P. citri thường bị các loại sinh vật ký sinh và ăn mồi tấn công như: Ageniaspis fuscicollis, Nemorilla maculosa ( là một loài ruồi trong họ Tachinidae ), Metaseiulus occidentalis, vi khuẩn Gram dương Bacillus thuringiensis.

b. Biện pháp quản lý sâu đục vỏ trái Prays citri

– Tiến hành tỉa cành tạo tán sau khi thu hoạch để vườn thông thoáng, kết hợp bón phân vun đất để diệt nhộng.

– Phát hiện sớm thời gian bướm bắt đầu đẻ trứng hoặc khi sâu mới gây hại trên quả vừa hình thành.

– Thu gom quả bị nhiễm còn trên cây và quả đã rụng, ngâm trong nước vôi nồng độ 1% ít nhất 24 giờ để diệt sâu non.

– Bao trái khi trái to bằng trái chanh để tránh bướm đẻ trứng trên quả vào ban đêm.

– Nuôi thả kiến vàng để diệt trứng sâu đục quả và sâu non.

– Phun các hoạt chất Emamectin, Lufenuron hay hỗn hợp (Chlorantraniliprole + Abamectin)… trừ sâu non ở giai đoạn trước nở hoa và giai đoạn quả non.

Nhện đỏ hại cây bưởi (!)

Tên khoa học: Tetranychus sp.

Họ: Tetranychidae ( Nhện đỏ chăng tơ )

Bộ: Acarina.

a. Đặc điểm hình thái, sinh học của nhện đỏ Tetranychus sp.

Thành trùng có hình bầu dục, thân rất nhỏ chỉ khoảng 0,4 mm ( có thể nhìn thấy bằng mắt thường ), thành trùng đực có kích thước nhỏ, khoảng 0,3 mm. Toàn thân phủ lông lưa thưa và thường có màu xanh, trắng hay đỏ với đốm đen ở 2 bên thân mình. Nhện có 4 đôi chân, thành trùng cái màu vàng nhạt hay hơi ngả sang màu xanh lá cây. Nhìn xuyên qua cơ thể có thể thấy được hai đốm màu đậm bên trong, đó là nơi để chứa thức ăn. Sau khi bắt cặp, thành trùng cái bắt đầu đẻ trứng từ 2 – 6 ngày, mỗi nhện cái đẻ khoảng 70 trứng.

Hình ảnh nhện đỏ 2 chấm Tetranychus urticae

Hình ảnh nhện đỏ hại bưởi da xanh

Trái bưởi bị nhện đỏ hại

Trứng của loài này rất nhỏ, hình cầu hoặc hình củ hành, bóng láng và được đẻ sát gân lá ở cả hai mặt lá ( thường là được gắn chặt vào mặt dưới của lá, ở những nơi có tơ do nhện tạo ra trong khi di chuyển ). Khoảng 4 – 5 ngày sau trứng nở.

Ấu trùng nhện đỏ rất giống thành trùng nhưng chỉ có 3 đôi chân. Những ấu trùng sẽ nở ra thành trùng cái thay da 3 lần trong khi những ấu trùng sẽ nở ra thành trùng đực thay da chỉ có 2 lần. Giai đoạn ấu trùng phát triển từ 5 – 10 ngày.

Nhện đỏ hoàn tất một thế hệ từ 20 – 40 ngày. Tuy ngắn nhưng sức phá hoại trên diện rộng là vô cùng khủng khiếp.

b. Đặc điểm gây hại của nhện đỏ Tetranychus sp.

– Nhện đỏ di chuyển rất nhanh và nhả tơ mỏng ( giúp bảo vệ chúng khỏi mưa gió chứ không có tác dụng bắt mồi ) bao thành một lớp ở mặt dưới lá nên trông lá có màu trắng dơ do lớp da để lại sau khi lột cùng với bụi và những tạp chất khác. Chúng sinh sống và gây hại ở mặt dưới lá để tránh các điều kiện bất lợi của tự nhiên, cả ấu trùng và thành trùng ( nhện trưởng thành và nhện non ) nhện đỏ đều ăn biểu bì và chích hút mô dịch của lá cây khi lá bước vào giai đoạn bánh tẻ trở đi làm cây bị mất màu xanh và có màu vàng, làm cho mặt trên của lá bị vàng loang lỗ ( những chấm trắng vàng rất rễ nhận biết ), còn ở mặt dưới lá có những vết trắng lấm tấm giống bụi cám, nhìn kỹ thấy trên đó có thấy lớp tơ rất mỏng.

– Khi nhện hại nặng lá cây bị phồng rộp sau đó cằn lại, vàng, thô cứng và sau cùng lá sẽ bị khô đi. Màu vàng của lá dễ nhìn thấy nhất là ở mặt dưới lá, làm giảm đi phẩm chất và năng suất trái. Khi mật số cao, cả cành non cũng bị nhện đỏ tấn công, cành cũng trở nên khô và chết.

– Nhện đỏ gây hại làm cho trái bị vàng, sạm và nứt khi trái lớn. Hoa bị hại có thể bị thúi, rụng sớm. Nhện còn có thể tuyền bệnh virus cho cây.

–  Nhện đỏ phát triển mạnh trong điều kiện khô hạn trong mùa nắng, hoặc cây bón nhiều đạm. Do có vòng đời ngắn nên thường mật số thường tăng lên rất nhanh và gây hại vô cùng nghiêm trọng.  Chúng lan truyền nhờ gió và nhờ những sợi tơ, mạng của chúng.

Bonus: Đối với cây hoa lan, nhện đỏ thường xuất hiện sớm ở mặt dưới của lá nên rất khó phát hiện, sau đó sinh sôi nảy nở rất nhanh, cắn hại lá, chích hút dịch bào trong mô lá lan tạo ra các đốm li ti dầy đặc màu nâu, rồi thành từng đám lớn. khi bị hại nặng ở đằng sau lưng lá xuất hiện các sợi tơ, làm cho lá bị vàng đi, khô và rụng.

c. Biện pháp phòng trị nhện đỏ Tetranychus sp.

⇒ Biện pháp canh tác, kỹ thuật

+ Không nên trồng vườn quá dầy làm cho vườn bị um tùm rậm rập, không thông thoáng, tán bị che phủ nhiều.

+ Tỉa bỏ những cành, lá không cần thiết bên trong tán cây để tán cây luôn luôn được thông thoáng.

+ Tưới nước giữ ẩm cho cây trong mùa khô.

+ Vệ sinh đồng ruộng, hủy triệt để tàn dư cây trồng

+ Tưới phun với áp lực mạnh khi mật độ nhện cao.

⇒ Biện pháp sinh học, tự nhiên

Thiên địch có vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế mật số nhện đỏ như:

+ Nhện đỏ Galandromus (Metaseiulus) occidentalis, loài này có cùng kích thước với nhện gây hại nhưng thiếu các chấm và có màu vàng nhạt đến màu đỏ nâu, khả năng diệt nhện của loài này không cao lắm.

+ Bù lạch 6 chấm Scolothrips sexmaculatus có 3 chấm màu sậm trên mỗi cánh trước, bù lạch bông Frankliniella occidentalis có màu từ vàng chanh sáng đến nâu sậm.

+ Bọ rùa Stethorus sp.

+ Bọ xít nhỏ Orius tristicolor và Chysoperla carnea cũng là thiên địch của nhện đỏ.

+  Bọ trĩ ăn thịt

⊗ Các loài thiên địch này thường khống chế nhện đỏ dưới ngưỡng gây hại nên không cần sử dụng thuốc hóa học để trừ nhện đỏ. Tuy nhiên khả năng sinh trưởng và thích ứng của những loài này không hề đồng đều với nhện đỏ nên ít khi được ưu tiên lựa chọn.

⊗ Chú ý việc lạm dụng thuốc hóa học dễ gây bộc phát nhện đỏ, bởi sẽ tiêu diệt luôn thiên địch của nhện đỏ và nhờ vậy nhện đỏ có khả năng quen và kháng thuốc cao.

⇒ Biện pháp hóa học

– Nhện đỏ rất khó trị vì rất nhỏ và thường sống ở gần gân lá, nơi thuốc trừ sâu rất khó tiếp xúc, hơn nữa, nhện tạo lập quần thể rất nhanh nên mật số tăng nhanh và nhiều. Có thể sử dụng các loại thuốc trừ nhện nhưng phải để ý đến quần thể thiên địch.

– Nếu vườn đào thường bị nhện gây hại nặng thì cứ mỗi đợt cây ra đọt, lá non nên phun xịt 3 lần thuốc trừ nhện: lần 1 khi cây vừa nhú đọt non, lần 2 khi đọt non ra rộ và lần 3 khi lá non bước sang giai đoạn bánh tẻ.

– Lưu ý cần sử dụng thuốc BVTV hợp lý để bảo vệ thiên địch. Tưới nước đầy đủ trong mùa nắng để làm tăng ẩm độ vườn. Chú ý dùng khi dùng thuốc cần luân phiên thuốc để tránh nhện hại lờn thuốc. Có thể dùng các loại thuốc như Comite, Pegasus, Kelthane, Ortus, Nissorun, dầu khoáng DC- Tron Plus.

Sâu vẽ bùa hại bưởi (!)

– Tên khoa học: Phyllocnistic citrella ( tên tiếng Anh: Citrus leafminer ). Loài này có mặt đầu tiên ở Florida năm 1993, nhưng sau đó nó được tìm thấy trên khắp thế giới, bao gồm Argentina, Úc, Brasil, Trung Quốc, Corse, Costa Rica, Cuba, Ấn Độ, Israel, Malaysia, Mauritius, Nam Phi, México, Philippines, Tây Ban Nha, và Hoa Kỳ.

– Họ: Gracillariidae

– Bộ: Lepidoptera

a. Đặc điểm hình thái sâu vẽ bùa Phyllocnistic citrella

Sâu vẽ bùa trưởng thành là một loại ngài nhỏ, cơ thể dài 2 – 3 mm, sải cánh rộng 4 – 5 mm. Toàn thân có màu vàng nhạt phớt ánh bạc. Cánh sau rất hẹp so với cánh trước, cả hai cánh đều có rìa lông dài.

Hình ảnh trưởng thành của Phyllocnistic citrella

Trứng có dạng hình bầu dục, nhỏ; kích thước rất bé chỉ từ 0,2 – 0,3 mm. Lúc đầu trong suốt còn khi sắp nở có màu trắng vàng.

Sâu non đẫy sức dài khoảng 4 mm, mình dẹp, không chân, đốt cuối bụng có hình ống dài.

Nhộng dài khoảng 2-3 mm, màu nâu vàng, cạnh bên mỗi đốt thân có 1 u lồi, trên có 1 sợi lông.

* Đặc điểm sinh học và sinh thái *

Vòng đời sâu vẽ bùa

* Vòng đời: 19 – 38 ngày

– Trứng: 1-6 ngày

– Sâu non: 4-10 ngày

– Nhộng: 7-12 ngày

– Trưởng thành: 7-10 ngày

b. Tập tính và khả năng gây hại của sâu vẽ bùa Phyllocnistic citrella

Bướm chuyên hoạt động về ban đêm, thường đẻ trứng ở mặt dưới lá gần gân chính của các đọt non mới mọc. Một trưởng thành sâu vẽ bùa thường đẻ được là 70 – 80 quả trứng, thời gian đẻ trứng từ 2 – 10 ngày. Sâu non mới nở thường có hành vi đục chui qua lớp biểu bì của lá để ăn phần nhu mô của lá tạo thành đường hầm ngoằn ngoèo dưới lớp biểu bì, kích thước sau nhỏ nên nếu chỉ nhìn qua thì rất khó phát hiện, phía sau là đường phân thải ra của sâu như sợi chỉ, lớp biểu bì có thể bị bong ra hoặc trông giống như nhầy ốc sên mà chúng ta thường thấy và lầm tưởng. Đường đục của sâu vẽ bùa dài và lớn dần theo sức lớn của sâu. Khi đẫy sức, sâu non đục ra mép lá, hoá nhộng tại mép lá gần gân lá, chỗ lá bị quăn bằng cách dùng tơ gấp lại che tổ kén.

Lá bưởi bị hại

Phyllocnistis citrella đang hóa nhộng

Khi sâu gây hại, lá ở vùng đọt non sẽ nhỏ, quăn lại, dị dạng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của chồi non. Hoa và trái có thể bị rụng khi cây bị gây hại nặng. Ở giai đoạn cây con nếu bị gây hại thường xuyên cây sẽ kém phát triển và có tán nhỏ hơn bình thường so với những cây khỏe mạnh. Sâu vẽ bùa chính là môi giới truyền bệnh loét trên cam quít. Sâu vẽ bùa gây hại quanh năm, tập trung nhiều vào các đợt ra đọt non trong mùa khô. Sâu gây hại trên các loại cây thuộc họ cam quít.

Sâu vẽ bùa gây hại tại vườn ươm

c. Điều kiện gây hại của sâu vẽ bùa

Sâu vẽ bùa Phyllocnistic citrella gây hại quanh năm, mức độ gây hại phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết và thức ăn của sâu. Nhiệt độ thích hợp cho sâu vẽ bùa phát sinh gây hại là 23 – 290C, ẩm độ thích hợp 85 – 90%.

d. Biện pháp quản lý sâu vẽ bùa Phyllocnistic citrella

⇒ Biện pháp canh tác

+ Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, tỉa cành, tạo tán, bón thúc cho lộc non ra tập trung, hạn chế sự phá hại của sâu. Thu dọn lá rụng trong vườn đốt bỏ cũng hạn chế nguồn sâu.

+ Thường xuyên theo dõi quan sát, để bảo vệ các đọt non vào các giai đoạn cao điểm phát triển của sâu. Trường hợp bị hại nặng thì có thể cắt bỏ các chồi lá bị sâu đem tập trung một chỗ để tiêu diệt.

⇒ Biện pháp sinh học: Sử dụng một số thiên địch phổ biến như

 + Thiên địch ký sinh: Có nhiều loài ong trong các họ Chalcidoidea và Ichneumonidea ký sinh trên sâu non và nhộng, đôi khi tỉ lệ kí sinh có thể lên đến 70-80%.

+ Thiên địch bắt mồi: Nhân nuôi thiên địch kiến vàng Oecophylla smaragdina là biện pháp có hiệu quả phòng trị sâu vẽ bùa cao

⇒ Biện pháp hoá học: Khi mật số sâu quá cao và áp dụng 2 cách trên không hiệu quả, có thể dùng các loại thuốc nội hấp để phun hay các hỗn hợp sử dụng thuốc BVTV hợp lý để bảo vệ nguồn thiên địch của sâu vẽ bùa trong tự nhiên, khi mật độ gây hại cao, sử dụng luân phiên một số thuốc gốc như: (Chlorantraniliprole + Abamectin), Imidacloprid (Confidor 100SL;  …), Cypermethrin (Viserin 4.5EC;….) Abamectin (Vibamec 1.8EC, 3.6EC;…), Polytrin, Selecron, dầu khoáng SK99, DC- Tron Plus, Confidor,… có thể phối hợp dầu khoáng với thuốc sâu để tăng hiệu quả phòng trừđể phòng trị.

Rầy mềm ( rệp cam ) hại bưởi (!)

– Tên khoa học của loài: Toxoptera auranti và Toxoptera citricidus

– Họ rầy mềm (rệp cam): Aphididae

– Bộ cánh đều: Homoptera

a. Đặc điểm hình thái và khả năng gây hại của rầy mềm ( rệp cam ) Toxoptera auranti và Toxoptera citricidus

1. Toxoptera citricidus

Hình ảnh loài Toxoptera citricidus

– Đặc điểm:

Rệp muội đen có cánh hoặc không cánh, hình dạng và kích thước tương tự như rệp muội nâu Toxoptera aurantii, tuy nhiên đốt râu thứ I, II và III của trưởng thành có cánh có màu đen và trên cauda có mang 25 – 40 lông nhỏ. Vết trên cánh trước nhạt, bên cạnh đó gân media ở cánh trước của rệp muội đen Toxoptera citricida chẻ đôi 2 lần.

– Gây hại:

Đây là loài rệp muội gây hại quan trọng nhất trên cây có múi (Citrus). T. citicidus gây hại bằng cách chích hút chồi non, tập trung chủ yếu ở mặt dưới lá, làm chồi biến dạng, lá cong queo còi cọc, không phát triển. Ngoài ra, rệp muội đen còn tiết mật ngọt làm nấm muội đen phát triển, ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây. T. citricidus còn là tác nhân quan trọng trong việc truyền bệnh “Tristeza” trên cam quýt. Đây là một loại bệnh nguy hiểm đã gây chết nhiều vườn cam quýt trên thế giới.

2. Toxoptera auranti

Hình ảnh loài Toxoptera auranti

– Đặc điểm:

Chúng có ngoại hình tương tự như rệp muội nâu đen. Khi trưởng thành thì chúng có cánh hoặc không cánh. Kích thước khi đến tuổi trưởng thành ở con cái ( không cánh và có cánh )dài khoảng 1,7 – 2,1mm. Trưởng thành cái không cánh có hình bầu dục nâu đen hoặc nâu đỏ, bóng. Giai đoạn ấu trùng có màu nâu.

Các đoạn nối các đốt râu đầu của trưởng thành cái không cánh và ấu trùng tuổi lớn có màu tối nên râu đầu trông như có sọc. Cánh trước của trưởng thành cái có cánh có pterostigma màu đen sậm và chỉ có 1 gân chẻ đôi media. Ống siphunculi dài gấp đôi cauda. Cả hai bộ phận siphunculi và cauda đều có màu đen. Trên cauda có mang khoảng 8 -19 lông nhỏ.

– Gây hại:

Chúng thường xuyên gây hại trên các vườn cây có múi như cam, quýt, chanh còn tơ. Tương tự như rệp muội nâu đen Toxoptera citricidus, chúng cũng là tác nhân truyền bệnh “Tristeza” trên cam quýt. Đây là một loại bệnh đã gây chết nhiều vườn cam quýt trên thế giới. Tại một số nước, chúng còn là tác nhân truyền bệnh “lá nhỏ Spiroplasma citri” trên cam quýt và bệnh Đốm vòng trên cà phê cũng như bệnh Đốm vòng trên đu đủ và bệnh Khảm trên dưa leo.

Toxoptera auranti và Toxoptera citricidus cùng gây hại

b. Biện pháp quản lý rầy mềm ( rệp cam ) Toxoptera auranti và Toxoptera citricidus

–  Cắt tỉa và tiêu hủy cành vượt, cành có nhiều rầy, tạo thông thoáng.

–  Tưới đủ ẩm và cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho vườn cây. Mặc dù gây hại nhiều trên cam quýt tuy nhiên cũng cần đề phòng chúng lây lan mạnh trên các vườn bưởi có mặt trên cả nước.

–  Cần theo dõi vườn thường xuyên, đặc biệt là vào các đợt cây ra đọt non, nếu thấy rầy có mật số cao thì có thể sử dụng thuốc hóa học để phun xịt. Các hoạt chất có thể sử dụng như Pymetrozin, Dầu khoáng D-C-Tron Plus 98,8 EC; Vibamec 1.8EC hoặc 3.6EC; Virofos 20EC; Bascide 50EC; Trebon 10 EC; Supracide 40 EC; Suprathion 40EC… Về liều lượng và cách sử dụng bạn có thể đọc hướng dẫn của nhà sản xuất có in sẵn trên bao bì.

Lưu ý: Tránh phun thuốc tràn lan, mà chỉ xử lý trực tiếp vào những chỗ có rầy bu bám (đọt non, lá non, cành non…) để bảo tồn các loài thiên địch quan trọng trong vườn như bọ rùa đỏ, kiến 3 khoang, ong ký sinh…

Bọ xít xanh (!)

Bọ xít xanh ( Danh pháp khoa học: Nezara viridula) là một loài bọ xít nằm trong họ Pentatomidae, đây là một loại địch hại cho cây trồng và gây ra thiệt hại lớn cho nông nghiệp. Chủ yếu gây hại trên cam, quýt, chanh, ngoài ra còn thấy xuất hiện trên bưởi nếu trồng xen nhiều cây. Có người gọi là bọ xít cam, hay con bù hút cam.

a. Đặc điểm hình thái của bọ xít xanh

Thành trùng có màu xanh lá cây, bóng với chiều dài cơ thể 20 – 22 mm, chiều rộng 15 – 16 mm. Kim chích hút dài đến cuối bụng. Rìa ngực phía trước có 2 gai nhọn, hai bên mép bụng có rìa răng cưa. Chính giữa mặt bụng có một đường nổi rõ rệt. Giai đoạn ấu trùng có 5 tuổi, ấu trùng mới nở dài khoảng 2,5 – 3 mm.

Hình ảnh bọ xít xanh

Ở các tuổi khác, ấu trùng đều có màu vàng tươi, trên ngực, cánh và bụng có xuất hiện nhiều đốm đen, các đốm rất to và đen sẫm ở tuổi nhỏ, khi ấu trùng lột xác lớn lên thì các đốm này nhỏ dần rất khó thấy. Mầm cánh của ấu trùng tuổi 5 đã lộ rất rõ bên ngoài cơ thể. Trứng rất tròn, mới đẻ có màu trắng trong, sau đó chuyển sang màu vàng nhạt, khi sắp nở, trứng có màu đen trên phần đầu.

b. Tập tính

Bọ xít trưởng thành hoạt động giao phối vào ban ngày, trong khoảng từ 9 – 10 giờ sáng, trứng được đẻ thành từng ổ, mỗi ổ trứng có từ 30 – 130 trứng; mỗi con cái sẽ đẻ từ 50 – 500 trứng. Bọ xít trưởng thành có tập tính ngủ đông và thường sẽ qua đông trong vỏ cây, tàn dư lá cây hoặc những khu vực khác.

Mùa xuân đến, nhiệt độ ấm lên, bọ xít xanh chui ra khỏi nơi ẩn nấp, phá hại và đẻ trứng. Con cái có thể bắt đầu đẻ sau khi hoá trưởng thành được 3 – 4 tuần. Bọ xít trưởng thành thích ánh sáng đèn. Trưởng thành có thể di chuyển xa với khoảng cách hàng cây số.

Thiên địch của trứng bọ xít xanh là các loài ong ký sinh như: Trissolcus latisulcus, Anastatus spp, nhện bắt mồi, nấm ký sinh Beuveria. Ngoài ra kiến vàng cũng có khả năng khống chế sự gây hại của bọ xít một cách đáng kể.

c. Gây hại

Bọ xít tấn công trái bưởi khi còn rất nhỏ. Cả ấu trùng và thành trùng đều dùng vòi để chích hút trái. Khi bị hại trái nhỏ  sẽ chuyển màu vàng, chai cứng và nặng thì rụng ngay sau đó. Nếu trái lớn bị hại, trái có thể bị thối do bội nhiễm nấm hại hoặc một số vi sinh vật khác. Chúng cũng thường gây hại cho cây thanh long từ khi cây có nụ hoa cho đến khi hình thành quả. Ngoài ra cũng thấy xuất hiện và gây hại trên lúa khi lúa còn non ở giai đoạn mạ, lúa lúa hồi xanh và đang đẻ nhánh.

d. Phòng trừ

– Phát hiện sớm, diệt các ổ bọ xít xanh mới nở, vợt bắt con trưởng thành.

Nên trồng sớm họăc đồng loạt, luân canh với các cây khác không cùng ký chủ. Sử dụng thuốc hóa học nên lưu ý dến sự lưu bả độc trên trái đậu rau.

– Sử dụng các loại thuốc hóa học lưu dẫn, có vị độc, tiếp xúc như Ofatox 400EC, Fastac 5EC, Padan 95 SP; Cyperan 5EC/10EC hoặc 25EC; Bassan 50EC; Sumicidin 10 hoặc 20EC, BIAN 40EC để phòng trị….

Ruồi đục trái (!)

Tên khoa học: Bactrocera sp., Bactrocera spp., Bactrocera dorsalis

Họ: Tephritidae

Bộ: Diptera

a. Đặc điểm hình thái của ruồi đục trái Bactrocera spp.

– Trứng ruồi hình trái dưa leo, dài 1mm, có màu trắng sữa, khi sắp nở chuyển sang vàng nhạt.

– Dòi mới nở dài khoảng 1,5mm; phát triển đầy đủ dài 6 – 8mm; màu vàng nhạt, miệng có móc. Khi phát triển đầy đủ, dòi búng mình rơi xuống đất để hóa nhộng trong đất, thời gian nhộng dài khoảng 7 – 12 ngày hoặc có thể dài hơn nếu gặp lạnh. Dòi làm nhộng sâu trong đất khoảng 3 – 7cm.

Ấu trùng ruồi đục trái ( dòi )

Hình ảnh ruồi đục trái

– Nhộng dài từ 5 – 7mm, có hình trứng dài, lúc đầu màu vàng nâu, khi sắp vũ hóa có màu nâu đỏ.

– Trưởng thành ruồi màu nâu, kích thước 7mm, trên lưng ngực giữa có 2 vệt vàng dọc, lưng ngực sau có vệt vàng ngang, 3 vệt này xếp thành hình chữ “U”. Bụng tròn giống bụng ong và cuối bụng nhọn. Phía lưng bụng có 2 vệt đậm đen hình chữ “T”. Ruồi hoạt động vào ban ngày. Thành trùng hiện diện suốt năm, thời gian sống của thành trùng 1 – 3 tháng. Thành trùng có thể bay đi rất xa.

b. Khả năng gây hại của ruồi đục trái (đục quả) Bactrocera spp.

Ruồi cái dùng ống đẻ trứng của mình chọc sâu vào vỏ quả rồi đẻ một chùm từ 5 – 10 trứng ( thường đẻ trứng lên quả phần tiếp giáp giữa vỏ và thịt quả ). Vỏ trái nơi ruồi đục vào có thấy màu đen, mềm, ứ nhựa (mủ), tạo điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh tấn công làm thối trái và có thể bị rụng hoặc vẫn đeo trên cây.

Dòi nở ra đục ăn trong quả ( ăn thịt trái ). Một quả có thể là nhà cho hàng chục con ròi cư ngụ. Quả bị dòi đục thường bị bội nhiễm các loại vi sinh vật nên thối rất nhanh. Ruồi đục quả phá hại từ khi quả già đến chín.

 

Trái bưởi bị hại

Ruồi tấn công lên nhiều loại cây trồng, trái cây bị ruồi đục thì giá trị thương phẩm, chất lượng sẽ giảm và không thể đem đi xuất khẩu được. Từ đó đánh mất uy tín và niềm tin đối với người tiêu dùng. Đối với vườn quất, quýt quả bị hại có màu vàng sáng xung quanh vết châm. Quả bị hại thường thối và rụng. Đối với quả thanh long, ruồi để trứng trên vỏ trái, dòi sau khi nở sẽ sống trực tiếp bên trong trái. Khi đó sẽ thấy bên ngoài vỏ có vết châm kim và ứa nước vàng. Mùa mưa là giai đoạn ruồi sinh sản mạnh và gây hại nặng cho nhà vườn. Có khả năng làm thất thoát >50% năng suất.

Đối với cây ổi, dòi nở ra đục ăn trong trái, tuổi càng lớn càng đục sâu vào phía trong làm trái bị thối và rụng. Bị hại nặng trái rụng hàng loạt. Trong 1 trái có thể có nhiều con dòi phá hại. Khi trưởng thành dòi chui ra khỏi trái rơi xuống đất hóa nhộng.

c. Biện pháp quản lý ruồi đục trái Bactrocera spp.

⇒ Biện pháp cơ học

– Đối với một số loại cây ăn trái ( quả ) nhất định phải sử dụng bao trái, bao quả để tránh ruồi đẻ trứng

– Không trồng xen các loại cây ăn trái khác trong vườn. Loại bỏ nhanh các cây là ký chủ của ruồi.

– Thu hoạch kịp thời, không để quả chín quá lâu trên cây.

– Vệ sinh đồng ruộng, vườn trồng, thường xuyên thu, hái và đem tiêu hủy toàn bộ trái rụng trên mặt đất và trái còn đeo trên cây vì là nơi ruồi lưu tồn.

⇒ Biện pháp hóa học

– Khi quả già chưa chín, phun trừ ruồi và dòi bằng các thuốc có hoạt chất Cyromazine…

– Phun mồi protein thủy phân (SOFRI Protein thuỷ phân): Do ruồi cái thích ăn protein để phát triển trứng, ruồi đực phát triển tinh trùng, nên có thể chuyển qua dùng bả mồi protein để diệt ruồi. Pha 4-5cc Karate 2.5EC với 55cc mồi protein trong 1 lít nước. Phun 200cc hỗn hợp này cho 1 cây, phun theo từng điểm (tránh phun trùm lên cả tán cây), để dẫn dụ và diệt ruồi. Đây là phương pháp hiệu quả và có thể áp dụng đồng loạt cả khu vực. Không phun toàn ruộng mà chỉ phun theo luống và bỏ cách luống, không phun trực tiếp lên trái. Biện pháp này cần được thực hiện trên diện rộng và thường xuyên.

– Dùng Pheromone bẫy ruồi đực và phun thuốc có hoạt chất Cyromazine khi ruồi mới đẻ trứng hay giòi mới nở.

– Sử dụng bẫy màu vàng sẽ hấp dẫn ruồi. Sử dụng bẫy ViZubon – D dẫn dụ ruồi đực (đặt 5 – 10m/1 bẫy).

– Dùng thuốc dẫn dụ có chất Methyl Eugenol, bắt chước kích thích tố sinh dục của ruồi cái để dẫn dụ ruồi đực. Trong thuốc có pha thêm thuốc trừ sâu Naled nên sẽ diệt ruồi đực. Ruồi cái còn lại sẽ đẻ ra trứng không có đực thụ tinh nên trứng không nở được.