skip to Main Content

Nấm răng quỷ – loài nấm kỳ lạ biết “chảy máu”

Nấm răng quỷ ( the Devil’s tooth ), danh pháp khoa học Hydnellum peckii Banker là một loài nấm không ăn được ( mặc dù không hề có độc ), và là thành viên của chi Hydnellum nằm trong họ Bankeraceae. Được biết đây là một loại nấm hydnoid, hay thường được gọi với cái tên là nấm răngtooth fungi ), chuyên sinh sản ra các bào tử trên bề mặt của các gai thẳng đứng hoặc phần nhô ra giống như răng tồn tại dưới bề mặt của quả thể. Loại nấm này được tìm thấy ở Bắc Mỹ, Châu Âu, ngoài ra còn thấy được phát hiện gần đây ở Iran ( 2008 ), Hàn Quốc ( 2010 ) và đảo Fraser của Australia (2019). Hydnellum peckii là một loài nấm rễ cộng sinh ( mycorrhizal species ), hình thành mối quan hệ cùng có lợi với nhiều cây thuộc ngành thông, chúng có thể mọc đơn lẻ, rải rác hoặc hợp nhất thành một khối trên mặt đất.

Hình ảnh cho nấm răng quỷ

Đặc trưng của quả thể là phần mũ nấm ( Pileus ) hình phễu với cạnh màu trắng, mặc dù hình dạng này có nhiều biến dị khác. Khi còn non, quả thể ẩm, có thể “chảy” ra một chất lỏng màu đỏ tươi chứa sắc tố có chất chống đông gần giống heparin. Chính sự xuất hiện một cách bất thường của quả thể non đã mang lại cho loài này một số tên mô tả khá phổ biến như strawberries and cream ( kem dâu tây ), the bleeding Hydnellum ( Hydnellum đang chảy máu ), the bleeding tooth fungus ( nấm răng chảy máu ), the red – juice tooth và trong đó có the Devil’s tooth ( răng Quỷ ). Mặc dù thể quả của nấm Hydnellum peckii có thể dễ dàng nhận biết khi còn non, Tuy nhiên chúng sẽ hóa nâu và khó nhận rõ khi già đi.

Mẫu vật già của nấm răng quỷ

Phân loại, phát sinh và tên gọi nấm răng quỷ

Loài này được mô tả khoa học lần đầu tiên bởi nhà nấm học người Mỹ Howard James Banker vào năm 1913. Pier Andrea Saccardo đã đặt loài này trong chi Hydnum vào năm 1925, trong khi Walter Henry Snell và Esther Amelia Dick đặt nó trong chi Calodon vào năm 1956; Được biết Hydnum peckii (Banker) Sacc. và Calodon peckii Snell & E.A. Dick đều là danh pháp đồng nghĩa của Hydnellum peckii.

Tên khoa học của loài được đặt để vinh danh nhà nấm học Charles Horton Peck.

Được biết loại nấm này được phân loại vào nhánh ( stirps ) ( những loài được cho là hậu duệ của một tổ tiên chung ) Diabolum thuộc chi Hydnellum, một nhóm các loài tương tự có các đặc điểm chung sau: trama ( phần thịt bên trong quả thể của nấm ) rõ rệt với các đường đồng tâm tạo thành những miền mờ và tối xen kẽ ( phân đới ); vị cực cay; mùi thơm; bào tử nấm hình bầu dục, không phải là dạng như tinh bột ( amyloid – tập hợp của các protein đặc trưng bởi hình thái sợi với đường kính vào khoảng 7 – 13 nm ) ( tức không hấp thụ iốt khi nhuộm bằng thuốc thử Melzer ), không bắt màu xanh ( tức không bắt màu với thuốc thử xanh Methyl – C37H27N3Na2O9S3 ); sự hiện diện của các kết nối kẹp ( Clamp connection – Cấu trúc dạng móc được hình thành bằng cách phát triển các tế bào sợi nấm của một số loại nấm, được tạo ra để đảm bảo mỗi tế bào, hoặc các phân đoạn của sợi nấm được ngăn cách bởi các vách ). Phân tích phân tử dựa trên trình tự DNA đệm ( DNA không được phiên mã nằm giữa các gen ) được phiên mã nội bộ của một số loài Hydnellum đã đặt H. peckii vào trong mối liên hệ gần gũi nhất với H. ferrugineum và H. spongiosipes. Ngoài ra Hydnellum peckii có bản in bào tử ( spore print ) màu nâu.

Mô tả về nấm răng quỷ

Quả thể ( quả bào tử ) là cấu trúc sinh sản được tạo ra từ thể sợi nấm khi đáp ứng các điều kiện môi trường thích hợp về nhiệt độ, độ ẩm và nhu cầu dinh dưỡng. Hydnellum peckii là một loại nấm hydnoid hình cuống, có nghĩa là nó có mũ trên đỉnh của cuống ( thân ), và có hình dạng giống với đặc trưng của chi Hydnum bởi tầng bào tử giống như răng, thay vì là lá tia ( ở mũ nấm ) hoặc lỗ ở phía mặt dưới của mũ. Các quả thể phát triển gần nhau thường xuất hiện dạng hợp nhất ( điều này được gọi là “confluence – hội lưu, hợp lưu hay dòng tế bào” ) và có thể đạt chiều cao lên tới 10,5 cm. Quả thể tươi thường tiết ra một chất lỏng màu đỏ nổi bật, dày khi chúng ẩm.

Bề mặt của mũ nấm từ lồi đến phẳng, ít nhiều không đều và đôi khi hơi lõm ở giữa. Nó thường được phủ dày đặc bằng những “sợi lông” khiến kết cấu của nó tương tự như nỉ hoặc nhung; những sợi lông này bị bong ra theo tuổi, làm cho mũ của mẫu vật trưởng thành khá nhẵn. Hình dạng của nó thay đổi từ hơi tròn đến không đều, 4 – 10 cm, hoặc thậm chí rộng tới 20 cm (7,9 in) dưới kết quả của “hợp lưu”. Mũ nấm ban đầu có màu hơi trắng, nhưng sau đó chuyển dần sang hơi nâu, với các đốm màu nâu đen không đều đến gần như đen, nơi nó bị “chảy máu”. Khi trưởng thành, bề mặt có nhiều xơ và dai, có vảy và mép lởm chởm, màu nâu xám ở phần trên của mũ và hơi gỗ.

Nấm răng quỷ đang chảy máu

Các gai mảnh, hình trụ và thon nhọn, dài dưới 5 mm và càng gần với mép mũ càng ngắn. Chúng chen chúc nhau, và thường có từ ba đến năm răng trên 1 mm2. Ban đầu chúng có màu trắng hơi hồng, và bắt màu nâu xám theo tuổi.

Gai nhọn chi chít dưới mũ nấm

Thân nấm dày, rất ngắn và thường bị biến dạng. Nó sẽ biến thành củ dạng hành khi xuyên qua đất và có thể đâm sâu vào trong đất vào cm. Mặc dù thân nấm có thể đạt tới tổng chiều dài là 5cm và rộng từ 1 – 3 cm, nhưng chỉ khoảng 0,1 – 1 cm là xuất hiện trên mặt đất. Phần trên được phủ cùng một “hàm răng” xuất hiện ở mặt dưới của mũ, trong khi phần dưới có lông và thường được bọc xung quanh bởi rác từ thảm rừng.

Mùi của quả thể được mô tả là “nhẹ đến khó chịu”, hay như Banker đề xuất trong những mô tả ban đầu của mình, nó có mùi tương tự như hạt cây hồ đào Mỹ.

Đặc điểm dưới kính hiển vi

Trong bản in bào tử, các bào tử xuất hiện màu nâu. Quan sát chúng bằng kính hiển vi ánh sáng cho thấy một số các chi tiết nhỏ hơn liên quan đến cấu trúc của chúng: các bào tử có dạng hình cầu xù xì nhưng kết thúc đột ngột tại một điểm nhỏ, bề mặt của chúng được bao phủ bởi các nốt nhỏ giống như mụn cóc và kích thước nằm trong khoảng từ 5,0 – 5,3 hay 4,0 – 4,7 µm.

Các tế bào của Hydnellum peckii ( sợi nấm ) cũng biểu hiện nhiều đặc trưng hữu ích khác nhau dựa trên các đặc điểm của chúng. Các sợi nấm tạo thành mũ nấm đều trong mờ, nhẵn, có thành mỏng và dày từ 3 – 4 µm. Chúng sẽ xẹp khi khô, nhưng có thể dễ dàng hồi sinh với dung dịch kali hydroxit KOH yếu ( 2% ). Những tế bào ở trong nắp thì tạo thành một mớ hỗn độn với xu hướng chạy theo chiều dọc. Chúng được phân chia bởi các vách ( septa ) và có các kết nối kẹp ( Clamp connection ) – các nhánh ngắn kết nối một tế bào với tế bào trước để cho phép các sản phẩm của phân chia hạt nhân đi qua. Đảm của nấm ( Basidia ), các tế bào mang bào tử trong tầng bào tử ( Hymenium ), có hình dùi cui và kích thước vào khoảng 3,5 – 4,0 hay 4,7 – 6 µm. 

Các loài nhỏ hơn

Hydnellum diabolus ( tính ngữ chỉ loài được đưa ra để chỉ một diabolum vô tính trong một số ấn phẩm ) có ngoại hình rất giống, đến nỗi một số người coi nó và H. peckii là 2 danh pháp đồng nghĩa; H. diabolus được cho là có mùi hăng ngọt nhưng vẫn chưa là gì so với H. peckii. Sự khác biệt giữa hai loài chỉ được mở rộng ra trong các mẫu vật trưởng thành: H. diabolus có thân dày không đều, trong khi thân của H. peckii được làm dày bởi một “lớp dạng xốp rõ ràng”. Ngoài ra, mẫu vật già của H. peckii có mũ nhẵn, trong khi H. diabolus có lông măng ( tomentose ). Các loài liên quan như H. pineticola cũng tiết ra những giọt chất lỏng màu hồng khi còn non và ẩm, loài thường được tìm thấy mọc dưới các cây tùng bách ở phía đông bắc của Bắc Mỹ. H. pineticola có vị “khó chịu”, nhưng không cay xè. Quả thể có xu hướng phát triển đơn lẻ, thay vì hợp nhất thành một khối giống như H. peckii, và chúng cũng không có thân dạng củ. 

Sinh thái học

Hydnellum peckii là một loại nấm rễ cộng sinh, thiết lập mối quan hệ tương hỗ với rễ của một số cây nhất định ( gọi là “vật chủ” ), trong đó nấm trao đổi khoáng chất và axit amin chiết xuất từ ​​đất để lấy carbon cố định từ vật chủ. Các sợi nấm dưới mặt đất của nấm phát triển một lớp mô bao quanh rễ con của một loạt các loài cây, trong một mối liên hệ mật thiết đặc biệt có lợi cho vật chủ ( gọi là  nấm rễ ngoài – ectomycorrhizal ), vì nấm tạo ra các enzyme khoáng hóa các hợp chất hữu cơ và tạo điều kiện cho sự vận chuyển chất dinh dưỡng cho cây. 

Các cấu trúc nấm rễ ngoài của H. peckii nằm trong số ít các loài thuộc họ Bankeraceae được nghiên cứu chi tiết. Chúng được đặc trưng bởi một lớp vỏ plectenchymatous – Một lớp mô làm từ sợi nấm được sắp xếp chặt chẽ theo hướng song song, hoặc theo hàng, hiếm khi phân nhánh hoặc chồng chéo lên nhau. Những sợi nấm này, cùng với các hạt đất vô cơ bám chặt, được nhúng trong một ma trận gelatin. Các sợi nấm của nấm rễ ngoài có thể trở thành các chlamydospore, một sự thích nghi giúp nấm chịu được các điều kiện bất lợi. Các Chlamydospore của H. peckii có cấu trúc đặc biệt, khác biệt rõ rệt với các loài khác trong họ Bankeraceae như các thành bên trong dày, mịn và thành bên ngoài được phân chia thành các mụn cóc. Đặc điểm nổi bật nhất của nấm rễ ngoài nói chung là cách các lớp bên ngoài màu đen của các lát cũ bị bong ra, tạo ra một “diện mạo carbon hóa – carbonized appearance”. Phần lớn sinh khối dưới lòng đất của nấm tập trung ở gần bề mặt, rất có thể là “thảm sợi nấm – mycelial mats” – cụm dày đặc của nấm rễ ngoài và thể sợi ( mycelium ). Thể sợi nấm cũng được biết là vượt ra ngoài phạm vi của các quả thể, cách xa tới 336 cm.

Các kỹ thuật phân tử đã được phát triển để giúp các nỗ lực bảo tồn của nấm hydnoid được quy định, bao gồm cả H. peckii. Mặc dù sự phân bố của nấm theo truyền thống được xác định bằng cách đếm số quả thể, phương pháp này lại có một nhược điểm lớn là quả thể không được sản sinh đều đặn hàng năm và sự vắng mặt của quả thể không phải là dấu hiệu của sự thiếu vắng các thể sợi nấm trong đất của nó. Các kỹ thuật hiện đại hơn sử dụng phản ứng chuỗi polymeraza để đánh giá sự hiện diện của DNA nấm trong đất đã giúp giảm bớt các vấn đề trong việc theo dõi sự xuất hiện và phân bố của hệ sợi nấm.

Phân bố của nấm răng quỷ

Loại nấm này có phân bố rộng ở Bắc Mỹ và đặc biệt phổ biến ở Tây Bắc Thái Bình Dương; phạm vi của nó kéo dài từ phía bắc đến Alaska và phía đông đến Bắc Carolina. Trong khu vực Puget Sound thuộc tiểu bang Washington của Hoa Kỳ, nó được tìm thấy cùng với loài Linh sam Douglas ( Pseudotsuga menziesii  ), các loài trong chi Lãnh sam firs và chi Tsuga. Dọc theo bờ biển Oregon, mẫu vật của nó đã được thu thập bên dưới loài lodgepole pine ( Pinus contorta ). Ngoài Bắc Mỹ, loại nấm này còn phổ biến ở châu Âu và sự xuất hiện của nó đã được ghi nhận ở Ý, Đức, và Scotland. Loài này tuy phổ biến, nhưng ngày càng hiếm ở một số nước châu Âu như Na Uy, Hà Lan, và Cộng hòa Séc. Ô nhiễm gia tăng ở Trung Âu được đề xuất là một trong những yếu tố có thể làm suy giảm nấm ở đó. Báo cáo từ Iran năm 2008 và Hàn Quốc năm 2010 là những báo cáo đầu tiên bên ngoài châu Âu và Bắc Mỹ.

Hóa học

Cấu trúc phân tử của Atromentin

Sàng lọc chiết xuất của Hydnellum peckii cho thấy sự hiện diện của một chất chống đông máu hiệu quả, có tên là atromentin ( 2,5-dihydroxy-3,6-bis (4-hydroxyphenyl) -1,4-benzoquinone ), và tương tự với hoạt động sinh học của chất chống đông heparin nổi tiếng. Atromentin cũng có hoạt tính kháng khuẩn, ức chế enzyme enoyl-acyl carrier protein reductase ( cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp axit béo ) ở vi khuẩn Streptococcus pneumoniae.

Hydnellum peckii được biết có thể tích tụ sinh học kim loại nặng Xezi (Cs). Trong một nghiên cứu thực địa ở Thụy Điển, có đến 9% tổng số xê-ri của 10 cm trên cùng của đất được tìm thấy trong thể sợi nấm. Nhìn chung, nấm rễ ngoài của nấm, phát triển mạnh nhất ở các tầng hữu cơ phía trên của đất hoặc ở mặt phân giới các lớp hữu cơ và khoáng chất, có liên quan đến việc giữ và quay vòng theo chu kỳ của đồng vị phóng xạ Caesium-137 trong đất rừng giàu chất hữu cơ. 

Back To Top