skip to Main Content

Nấm răng quỷ – loài nấm kỳ lạ biết “chảy máu”

Nấm răng quỷ, danh pháp khoa học Hydnellum peckii Banker, một loài nấm không ăn được ( mặc dù không hề có độc ), và là thành viên của chi Hydnellum trong họ Bankeraceae. H. peckii là một loại nấm răng ( tooth fungi ), sản sinh bào tử trên bề mặt các gai thẳng đứng ( vertical spines ) hoặc phần nhô ra tựa răng nhọn tồn tại dưới bề mặt của quả thể ( basidiocarp ). Loại nấm này được tìm thấy ở Bắc Mỹ, Châu Âu, được phát hiện gần đây ở Iran ( 2008 ), Hàn Quốc ( 2010 ) và đảo Fraser của Australia ( 2019 ). H.peckii là một loài nấm rễ cộng sinh ( mycorrhizal species ), hình thành mối quan hệ đôi bên cùng có lợi với nhiều cây thuộc ngành Thông Pinophyta; nấm có thể mọc đơn lẻ, rải rác hoặc tập hợp thành từng đám trên mặt đất.

Lần cập nhật nội dung gần nhất: 28/11/2020.

Lưu ý: Một số thông tin trong bài viết mang nặng ý nghĩ chủ quan của người viết. Rất mong bạn đọc góp ý và sửa lỗi để shop có thể cải thiện bài viết hơn nữa trong tương lai.

Hình ảnh cho nấm răng quỷ

Đặc trưng của quả thể là phần mũ nấm ( cap ) hình phễu ( funnel-shaped ) với mép màu trắng, dù vẫn có nhiều biến dị khác. Khi còn non, quả thể ẩm, có thể “chảy” ra một chất lỏng màu đỏ tươi chứa sắc tố có chất chống đông tương tự như Heparin. Chính sự xuất hiện và “chảy máu” một cách bất thường của quả thể non mà loài nấm này có cho mình một số tên mô tả khá phổ biến như strawberries and cream ( kem dâu tây ), the bleeding Hydnellum ( nấm Hydnellum chảy máu ), the bleeding tooth fungus ( nấm răng chảy máu ), the red – juice tooth và trong đó có the Devil’s tooth ( răng Quỷ ). Mặc dù quả thể của Hydnellum peckii có thể dễ dàng nhận biết khi còn non, tuy nhiên chúng sẽ hóa nâu và khó nhận ra khi về già.

Mẫu vật già của nấm răng quỷ

Phân loại, phát sinh và tên gọi nấm răng quỷ

Loài này được mô tả khoa học lần đầu bởi nhà nấm học người Mỹ Howard James Banker vào năm 1913. Sau đó Pier Andrea Saccardo đã đặt loài này trong chi Hydnum vào năm 1925; Walter Henry Snell và Esther Amelia Dick về sau đặt nó trong chi Calodon vào năm 1956; Hydnum peckii (Banker) Sacc. và Calodon peckii Snell & E.A. Dick đều là danh pháp đồng nghĩa của Hydnellum peckii.

Được biết loại nấm này được phân loại vào nhánh ( stirps ) ( những loài được cho là hậu duệ của một tổ tiên chung ) Diabolum thuộc chi Hydnellum, một nhóm các loài tương tự có các đặc điểm chung sau: trama rõ rệt với các vạch đồng tâm ( concentric lines ) hình thành những vùng mờ và tối xen kẽ; vị cực cay; mùi thơm; bào tử hình bầu dục, không thuộc dạng tinh bột ( amyloid ) ( không hấp thụ iốt khi nhuộm bằng thuốc thử Melzer ), không bắt màu với thuốc thử xanh Methyl – C37H27N3Na2O9S3 ( acyanophilous ); kèm sự hiện diện của các mấu nối ( clamp connection ). Phân tích phân tử dựa trên trình tự ITS DNA ( Internal transcribed spacer DNA – DNA chêm được phiên mã nội bộ ) của một số loài chi Hydnellum đã đặt H. peckii vào trong mối liên hệ gần gũi nhất với H. ferrugineum và H. spongiosipes. Ngoài ra Hydnellum peckii còn có bản in bào tử ( spore print ) màu nâu.

Mô tả về nấm răng quỷ

Quả thể ( sporocarps ) là cấu trúc sinh sản được tạo ra từ tản nấm ( mycelium ) khi đáp ứng các điều kiện môi trường thích hợp về nhiệt độ, độ ẩm và hàm lượng chất dinh dưỡng. H. peckii là một loại nấm răng hình chân ( stipitate hydnoid fungus ), phần gắn trên đỉnh của cuống ( thân ), mang đặc trưng của chi Hydnum với màng bào ( hymenium ) tua tủa giống như răng, thay vì lá tia ( gills ) hoặc lỗ nấm ( pores ) ở phía mặt dưới của . Các quả thể phát triển gần nhau thường tập hợp lại thành một bản thể duy nhất ( hay còn gọi là “confluence” ) và có thể đạt chiều cao lên tới 10,5 cm. Quả thể mới thường tiết ra một chất lỏng màu đỏ tươi nổi bật chúng còn ẩm.

Bề mặt của mũ nấm từ lồi đến phẳng, ít nhiều không đều và đôi khi hơi lõm ở giữa; thường được phủ dày bằng những “sợi lông” khiến kết cấu của mũ tương tự như nỉ ( felt ) hoặc nhung ( velvet ); những “lông” này bị bong ra theo tuổi, khiến cho mũ của mẫu trưởng thành thường nhẵn. Hình dạng của thay đổi từ hơi tròn đến không đều, 4 – 10 cm, hoặc thậm chí rộng tới 20 cm ( 7,9 in ) dưới kết quả của “confluence”. Mũ nấm ban đầu có màu hơi trắng, về sau chuyển dần sang hơi nâu, với các đốm màu nâu đen không đều đến gần như đen, nơi mũ bị “chảy máu”. Khi trưởng thành, bề mặt mũ có nhiều sợi ( fibrous ) và dai, có vảy và mép lởm chởm, màu nâu xám ở phần trên của mũ và hóa gỗ một phần.

Nấm răng quỷ đang chảy máu

Các gai mảnh, hình trụ và thon nhọn ( terete ), dài dưới 5 mm và càng gần về mép mũ càng ngắn. Chúng chen chúc nhau, nên thường có từ ba đến năm “răng” trên 1 mm2; ban đầu có màu trắng hơi hồng, về sau bắt màu nâu xám theo tuổi.

Gai nhọn chi chít dưới mũ nấm

Thân nấm ( stipe ) dày, vô cùng ngắn và thường bị biến dạng; hình hành ( bulbous ) khi xuyên qua đất và rễ có thể đâm sâu vào trong đất vài cm. Mặc dù tổng chiều dài của thân nấm vào khoảng 5 cm và rộng từ 1 – 3 cm, nhưng chỉ khoảng 0,1 – 1 cm là xuất hiện trên mặt đất. Phần trên được phủ kín bởi một “hàm răng” sắc nhọn xuất hiện ở mặt dưới của , trong khi phần dưới thường có lông và hay được bọc xung quanh bởi các mảnh vụn ( debris ) nơi thảm rừng.

Mùi ( odor ) của quả thể được mô tả là “nhẹ đến khó chịu”, hay như Banker đề xuất trong dòng mô tả ban đầu của mình, khi có mùi tương tự như hạt ( nuts ) cây mại châu hay hồ đào Mỹ ( hickory ).

1. Đặc điểm dưới kính hiển vi

Quan sát bản in bào tử ( spore print ) thì thấy bào tử có màu nâu. Quan sát chúng bằng kính hiển vi quang học ( light microscope ) thì thấy một số các chi tiết nhỏ liên quan đến cấu trúc như: các bào tử có dạng hình cầu xù xì ( roughly spherical ), bề mặt của chúng được bao phủ bởi các mấu nhỏ ( nodules ) giống như mụn cóc và kích thước nằm trong khoảng từ 5,0 – 5,3 hay 4,0 – 4,7 µm.

Các tế bào bên trong sợi nấm của Hydnellum peckii cũng biểu hiện nhiều đặc tính hữu ích khác nhau dựa trên các đặc điểm của chúng. Cụ thể, sợi nấm ( hyphae ) hình thành nên mũ nấm trong mờ, nhẵn, có thành mỏng, dày từ 3 – 4 µm. Chúng sẽ mất ổn định khi khô, nhưng có thể dễ dàng hồi sinh với dung dịch Kali hydroxit yếu ( 2% ). Bên trong mũ nấm, sợi nấm ( hyphae ) quấn xiết lấy nhau một cách hỗn độn với xu hướng chạy theo chiều dọc. Chúng được chia thành các tế bào bởi các vách ngăn ( septa ) kèm các mấu nối ( clamp connection ) – các nhánh ngắn kết nối một tế bào với tế bào trước cho phép các sản phẩm của quá trình phân chia nhân ( nuclear division ) đi qua. Đảm nấm ( Basidia ), các tế bào mang bào tử phía trong màng bào ( hymenium ), mang hình gậy và kích thước vào khoảng 3,5 – 4,0 hay 4,7 – 6 µm. 

2. Các loài tương tự

Hydnellum diabolus ( tính ngữ chỉ loài được đưa ra để chỉ một diabolum vô tính trong một số ấn phẩm ) có ngoại hình rất giống, đến nỗi một số người coi nó và H. peckii là 2 danh pháp đồng nghĩa; H. diabolus được cho là có mùi hăng ngọt nhưng vẫn chưa là gì so với H. peckii. Sự khác biệt giữa hai loài chỉ được hiểu biết rõ khi quan sát các mẫu trưởng thành: H. diabolus thân ( stipe ) dày không đều, trong khi thân của H. peckii dày lên bởi một “lớp xốp rõ ràng”. Ngoài ra, khi về già H. peckii có mũ nhẵn, trong khi H. diabolus lông măng ( tomentose ). Các loài liên quan như H. pineticola cũng tiết ra những giọt chất lỏng màu hồng khi còn non và ẩm, thường được tìm thấy mọc dưới các cây tùng bách tại đông bắc Bắc Mỹ. H. pineticola có vị “khó chịu”, nhưng không chát ( acrid ). Quả thể có xu hướng phát triển đơn lẻ, thay vì hợp nhất thành một khối giống như H. peckii, và chúng cũng không có thân hình hành ( bulbous ). 

Sinh thái học

Hydnellum peckii là một loại nấm rễ cộng sinh, thiết lập mối quan hệ tương hỗ với rễ của một số cây nhất định ( gọi là “vật chủ” ), trong đó nấm trao đổi khoáng chất và các axit amin chiết xuất từ ​​đất để cố định cacbon từ vật chủ. Các sợi nấm dưới mặt đất của nấm phát triển một lớp mô bao quanh rễ con của một loạt các cây, hình thành mối liên kết mật thiết đặc biệt có lợi cho vật chủ ( hay nấm rễ ngoài – ectomycorrhizal ), trong đó nấm tạo ra các enzyme khoáng hóa các hợp chất hữu cơ tạo điều kiện thuận lợi cho sự vận chuyển chất dinh dưỡng cho cây. 

Cấu trúc nấm rễ ngoài của H. peckii nằm trong số ít các loài thuộc họ Bankeraceae được đem ra nghiên cứu chi tiết. Chúng đặc trưng bởi một vỏ sợi dày ( plectenchymatous mantle ) – một lớp mô hình thành từ sợi nấm được sắp xếp có hệ thống theo hướng song song, hoặc theo hàng, hiếm khi phân nhánh hoặc chồng chéo lên nhau. Những sợi nấm này, cùng với các hạt đất ( soil particles ) vô cơ bám chặt, đều được nhúng trong chất nền gelatin ( gelatinous matrix ). Sợi nấm của nấm rễ ngoài có thể hình thành các bào tử vách dày ( chlamydospore ), một sự thích nghi giúp nấm chống chịu lại được các điều kiện bất lợi.

Bào tử vách dày của H. peckii có cấu trúc đặc biệt, khác biệt rõ rệt với các loài khác trong họ Bankeraceae như lớp vỏ bên trong dày, mịn và vỏ ngoài ( outer wall ) được phân hóa xuyên tâm thành các mụn cóc. Đặc điểm nổi bật nhất của nấm rễ ngoài nói chung là cách một số lớp đen phía ngoài của các lát cũ bị bong ra, cho ra một “carbonized appearance” ( “diện mạo carbon hóa” ). Phần lớn sinh khối ( biomass ) dưới lòng đất của nấm tập trung ở gần bề mặt, rất có thể là “mycelial mats” ( “thảm tản nấm” ) – khối dày đặc các nấm rễ ngoàitản nấm ( mycelium ). Được biết, tản nấm có thể vượt ra ngoài phạm vi của các quả thể, khi cách xa tới đó 337 cm.

Các kỹ thuật phân tử ( molecular techniques ) nay đã có những bước phát triển lớn để có thể trợ giúp các nỗ lực bảo tồn các loài nấm răng hình chân ( stipitate hydnoid fungi ) được hiệu quả, bao gồm cả H. peckii. Dù sự phân bố của nấm theo truyền thống được xác định bằng cách đếm số quả thể, tuy nhiên về lâu dài phương pháp này lại cho thấy một nhược điểm lớn là quả thể không được sản sinh đều đặn hàng năm và sự vắng mặt của quả thể không phải là dấu hiệu của sự thiếu vắng các tản nấm trong đất của loài. Các kỹ thuật hiện đại hơn sử dụng phản ứng chuỗi polymerase ( polymerase chain reaction – PCR ) để đánh giá sự hiện diện của DNA nấm trong đất đã giúp giảm bớt phần nào các vấn đề trong việc theo dõi sự xuất hiện và phân bố của tản nấm.

Phân bố của nấm răng quỷ

Loại nấm này có phân bố rộng ở Bắc Mỹ và đặc biệt phổ biến ở Tây Bắc Thái Bình Dương; phạm vi của nấm kéo dài từ phía bắc đến Alaska và phía đông đến Bắc Carolina. Tại khu vực Puget Sound thuộc tiểu bang Washington của Hoa Kỳ, nấm được tìm thấy cùng với loài Linh sam Douglas ( Pseudotsuga menziesii (Mirb.) Franco ), các loài trong chi Lãnh sam firs và chi Tsuga. Dọc theo bờ biển Oregon, mẫu vật của nấm được thu thập chủ yếu bên dưới loài Pinus contorta Douglas ex Loudon. Ngoài Bắc Mỹ, H. peckii còn phổ biến ở châu Âu và sự xuất hiện của nấm đã được ghi nhận ở Ý, Đức, và Scotland. Phổ biến là vậy, nhưng số lượng cá thể của loài nấm này đang ngày càng hiếm ở một số nước châu Âu như Na Uy, Hà Lan, và Cộng hòa Séc. Ô nhiễm gia tăng ở Trung Âu được đánh giá là một trong những tác nhân có thể làm suy giảm nấm. Báo cáo từ Iran năm 2008 và Hàn Quốc năm 2010 là những báo cáo đầu tiên bên ngoài châu Âu Bắc Mỹ.

Hóa học

Cấu trúc phân tử của Atromentin

Việc sàng lọc chiết xuất của Hydnellum peckii cho thấy sự hiện diện của một chất chống đông máu có tên là atromentin ( 2,5-dihydroxy-3,6-bis (4-hydroxyphenyl) -1,4-benzoquinone ), tương tự với hoạt tính sinh học ( biological activity ) của chất chống đông heparin nổi tiếng. Atromentin cũng có hoạt tính kháng khuẩn, ức chế enzyme enoyl-acyl carrier protein reductase ( cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp axit béo ) ở vi khuẩn Streptococcus pneumoniae.

Hydnellum peckii được biết có thể tích tụ sinh học ( bioaccumulate ) kim loại nặng Xêsi ( Cs ). Trong một nghiên cứu thực địa ở Thụy Điển, có đến 9% tổng số Xêsi trên lớp đất dày 10 được tìm thấy trong tản nấm. Nhìn chung, nấm rễ ngoài, phát triển mạnh nhất ở các tầng hữu cơ phía trên của đất hoặc ở mặt phân cách giữa các lớp hữu cơ và khoáng chất, có liên quan đến việc giữ và quay vòng theo chu kỳ của đồng vị phóng xạ Caesium-137 trong đất rừng giàu chất hữu cơ. 

Back To Top