skip to Main Content
Cây Chữa Rắn Cắn Trắng – “sát Thủ” đã Giết Chết Mẹ Của Abraham Lincoln – Vị Tổng Thống Thứ 16 Của Hoa Kỳ

Cây chữa rắn cắn trắng – “sát thủ” đã giết chết mẹ của Abraham Lincoln – vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ

Cây chữa rắn cắn trắng, tên Tiếng anh là white snakeroot ( danh pháp khoa học là Ageratina altissima (L.) King & H.E.Robins., đồng nghĩa Ageratum altissimum L.; Eupatorium ageratoides L.f.;; Eupatorium boreale Greene ), tên phổ biến khác của loài là richweed ( cây nước thần chẻ ba ), hoặc white sanicle ( cây cần nước trắng ), là một loại thảo dược lâu năm có độc trong họ Cúc Asteraceae, có nguồn gốc ở miền đông và miền trung Bắc Mỹ. Loài này được (L.) R.M.King & H.Rob. mô tả khoa học đầu tiên năm 1970. Danh pháp khoa học hai phần cũ trước đây là Eupatorium rugosum, nhưng chi Mần tưới Eupatorium đã trải qua nhiều lần sửa đổi, phân loại bởi các nhà thực vật học, và một số loài từng được đưa vào nó đã được chuyển sang các chi khác.

Hình ảnh cây chữa rắn cắn trắng

Cây đứng thẳng hoặc đôi khi mọc cao cao tới 1,5 mét; tạo ra các bụi đơn hoặc đa thân vào giữa đến cuối mùa hè và mùa thu. Những bông hoa có màu trắng tinh khiết và sau khi nở, những hạt nhỏ được phủ lông tơ trắng mịn được giải phóng và tung bay trong gió. Nó được tìm thấy trong rừng và bụi cây rậm, có khi ở những khu vực râm mát với mặt đất trống trải, và có thể mọc um tùm trong những cảnh quan râm mát hoặc hàng rào cây. Có hai loài khác nhau là Ageratina altissima var. altissimaAgeratina altissima var. roanensis ( Appalachian white snakeroot ); chúng khác nhau về chiều dài của các lá bắc hoa và hình dạng của đỉnh.

Độc tính tremetol trong cây chữa rắn cắn trắng

Tremetone là một hợp chất hóa học được tìm thấy trong tremetol, một hỗn hợp độc tố từ cây chữa rắn cắn ( Ageratina altissima ) gây bệnh ốm sữa ( milk sickness ) ở người và run rẩy ( trembles ) trong chăn nuôi. Được biết tremetone là thành phần chính của ít nhất 11 chất có liên quan về mặt hóa học trong tremetol. Tremetone gây độc cho cá, nhưng không phải với gà, do đó không phải là hợp chất độc hại chính trong tremetol. Tremetol có thể được tìm thấy ở một số loài khác nhau thuộc họ Mần tưới Asteraceae, bao gồm cây chữa rắn cắn và rayless goldenrod ( Isocoma pluriflora ).

Hình ảnh cho tremetone

Về mặt tổng hợp, thì Tremetol, một loại dầu có tông màu rơm, được phân lập lần đầu tiên từ cây chữa rắn cắn trắng bởi J.F. Couch vào năm 1929. Sắc ký cột của tremetol thu được hydrocarbon, hai steroid và ba Xeton. Các thí nghiệm phân lập chuyên sâu hơn đã tiết lộ rằng tremetone là thành phần chính của Xeton trong hợp chất tremetol. Do đó, giả thuyết được đưa ra rằng tremetone chính là kẻ chịu trách nhiệm cho các cơn “run rẩy”, đặc trưng cho bệnh ốm sữa. Tremetone lần đầu tiên được tổng hợp vào tháng 7 năm 1963 bởi DeGraw, Bowen và Bonner. Tổng hợp này được minh họa bằng hình dưới đây. Bước khử nước cuối cùng ( final dehydration step ) được thực hiện bằng cách xử lý với  phosphoryl clorua / pyridine POCl3 ở 75oC.

Quá trình tổng hợp 4 bước của racemic tremetone

Quá trình tổng hợp này có hiệu suất đạt 75%, nhưng sản phẩm cuối cùng lại là một Raxemat ( hay hỗn hợp racemic, là một hỗn hợp trong đó có sự tương đương lượng phía tay trái và phía tay phải các đồng phân của một phân tử chiral – mà một phân tử hoặc một ion được gọi là chiral /kˈræl/ nếu nó không thể chồng lên hình ảnh phản chiếu của chính mình khi có sự kết hợp bất kì của các phép quay và phép dịch nào ). Điều này đã ngăn cản sự phân lập của đồng phân quay về phía tay trái tự nhiên của tremetone; do đó hạn chế khả năng phân tích sâu hơn nữa các cơ chế sinh học của nó. Tuy nhiên, vào tháng 11 năm 1963, các đồng phân của tremetone đã được phân lập bởi Bowen, et al. thông qua ảnh minh họa dưới đây. Sự phân giải các chất đồng phân này xảy ra do sự đồng kết tinh ( co-crystallization ) của axit sau khi khử Na/Hg.

Tổng hợp ( đối hình )

Bệnh ốm sữa gây ra bởi cây chữa rắn cắn trắng

Bệnh ốm sữa, còn được gọi là nôn mửa tremetol ( tremetol vomiting ) hoặc run rẩy ở động vật, là một loại ngộ độc, đặc trưng bởi rùng mình, nôn mửa và đau ruột nghiêm trọng, ảnh hưởng trên từng cá thể với những người hấp thụ sữa, các sản phẩm bơ sữa khác hoặc thịt từ bò nhiễm độc tremetol khi cho ăn cây chữa rắn cắn trắng.

Cây chữa rắn cắn trắng gây bệnh ốm sữa

Mặc dù ngày nay bệnh này rất hiếm, nhưng trong quá khứ bệnh ốm sữa đã cướp đi hàng ngàn sinh mạng của những người di cư đến Trung Tây Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 19, đặc biệt là ở các khu vực biên giới dọc theo Thung lũng sông Ohio và các nhánh của nó, nơi cây chữa rắn cắn trắng mọc phổ biến. Đơn giản là bởi những người định cư mới không hề quen biết với loài cây này và các đặc của nó. Một bệnh nhân đáng chú ý là bà Nancy Hanks Lincoln, mẹ của cố Tổng thống Abraham Lincoln, đã qua đời vì bệnh ốm sữa vào năm 1818. Bê đang bú và cừu con cũng có thể chết vì sữa từ mẹ của chúng bị nhiễm độc với cây chữa rắn cắn, mặc dù bò và cừu trưởng thành không hề xuất hiện dấu hiệu ngộ độc. Gia súc, ngựa và cừu là những động vật thường hay bị đầu độc nhất bởi loài cây này.

a. Dấu hiệu và triệu chứng

Một số dấu hiệu ban đầu ở một số động vật bao gồm gia súc, cừuchuột lang nhà ( bọ ú – Guinea pig ) là sự lờ phờ, kèm sau đó thường là sụt cân đáng kể và run rẩy rõ rệt ở chân và mõm. Những dấu hiệu này thông thường sẽ xuất hiện vài giờ sau khi ăn phải cây chữa rắn cắn trắng. Ngoài ra các dấu hiệu khác như đau bụng, chứng khát nhiều và nôn cũng có thể được ghi nhận thêm. Trong quá trình bị ảnh hưởng bởi độc tố, các dấu hiệu như táo bón, chán ăn, yếu, khó đứng và/hoặc đi bộ thường dễ thấy nhất. Mất hoàn toàn sự phối hợp cơ, choáng váng và/hoặc hôn mê trước khi chết. Tử vong thường đến trong vòng từ hai đến mười ngày kể từ khi xuất hiện triệu chứng. Các dấu hiệu duy nhất đối với gia súc và cừu bao gồm một mùi đặc biệt được tìm thấy trong hơi thở và nước tiểu của chúng, khó thở và tăng tiết nước bọt. Các triệu chứng duy nhất đối với ngựa bao gồm suy giảm chức năng, nước tiểu có máu và ngộp thở. Ngoài việc tăng nhịp tim và tĩnh mạch cảnh đập nhanh hơn bình thường, sưng quanh lối vào ngực ( thoracic inlet ) cũng được quan sát thấy. Ngựa cũng có thể đứng với hai chân sau cách xa nhau. Các triệu chứng duy nhất đối với chuột lang nhà bao gồm cúi mình với đôi mắt khép hờ và xù lông. Chưa có thuốc đặc trị triệt để, do vậy điều trị bệnh ốm sữa thông thường chỉ có thể làm các triệu chứng thuyên giảm, như sử dụng thuốc nhuận tràng, Natri lactat, glucose hoặc thuốc nước trương lực Ringer.

b. Bệnh ốm sữa hiện nay

Bệnh ốm sữa ở người ngày nay không phổ biến ở Hoa Kỳ. Các biện pháp chăn nuôi hiện nay thường sẽ kiểm soát gắt gao một số khu vực trên đồng cỏ và thức ăn của gia súc, kết hợp với việc vắt sữa từ nhiều nhà sản xuất đã làm giảm nguy cơ tremetol xuất hiện với hàm lượng lớn có thể gây nguy hiểm. Độc chất tremetol không bị khử hoạt tính bởi phương pháp thanh trùng Pasteur. Mặc dù có thể nói là cực kỳ hiếm gặp, bệnh ốm sữa vẫn có thể xảy ra nếu một người vô tình uống sữa bị ô nhiễm hoặc ăn các sản phẩm từ sữa từ bò hoặc từ một đàn nhỏ hơn đã ăn cây chữa rắn cắn trắng.

c. Lịch sử

Bệnh ốm sữa được nghi ngờ là một căn bệnh vào đầu thế kỷ 19 được bởi những người di cư chuyển đến vùng Trung Tây; đầu tiên họ định cư ở những khu vực giáp sông Ohio và các nhánh của nó, được biết đây là những tuyến giao thương chính. Những người này thường chăn thả gia súc ở các khu vực biên giới nơi cây chữa rắn cắn trắng phát triển; vốn không hề quen biết với loài cây này và các đặc tính của nó vì không hề được tìm thấy ở Bờ Đông. Tỷ lệ tử vong cao do mắc bệnh ốm sữa khiến mọi người lo sợ rằng họ đã mắc phải các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như bệnh tả hoặc sốt vàng da, những nguyên nhân lại không được tìm hiểu rõ vào thời điểm đó. Khi đồng cỏ bắt đầu trở nên khan hiếm hoặc trong thời kỳ hạn hán, gia súc sẽ bắt đầu gặm cỏ trong rừng, môi trường sống của cây chữa rắn cắn trắng. Cộng thêm việc những người định cư sớm thường để gia súc của họ đi lang thang trong rừng.

Bệnh sữa được mô tả lần đầu tiên bằng văn bản vào năm 1809, khi Tiến sĩ Thomas Barbee ở Hạt Bourbon, Kentucky, nêu chi tiết các triệu chứng của nó. Được mô tả theo từng trường hợp như là “sự run rẩy”, “sự chậm chạp” hoặc sự đau yếu “khi một người trở ốm và vật nuôi của anh ta run rẩy,” một nguyên nhân thường xuyên nhất của bệnh dẫn đến tử vong. Tỷ lệ tử vong cao đến mức đôi khi một nửa số người trong khu định cư ở biên giới có thể chết vì bệnh ốm sữa. Các bác sĩ đã sử dụng phương pháp điều trị hiện đại như trích máu, nhưng lại không mấy thành công vì nó không hề liên quan đến nguyên nhân gây bệnh.

Các trường hợp bắt đầu được xác định ở Ohio, Kentucky, Tennessee, Indiana và Illinois. Căn bệnh này đặc biệt tàn khốc ở quận Henderson, Kentucky, dọc theo bờ sông Green. Vì những mất mát từ bệnh tật, vào ngày 29 tháng 1 năm 1830, Đại hội đồng Kentucky đã trao phần thưởng lên tới 600$ cho bất kỳ ai tìm ra được nguyên nhân của nó. Nhiều nhà khoa học trong khu vực đã cố gắng xác định nguyên nhân gây bệnh, nhưng không mấy thành công. Vấn đề chỉ bắt đầu được hé lộ khi một số nông dân bắt đầu nhận thấy rằng chỉ cần dọn dẹp các bờ sông và chăn thả gia súc trên các cánh đồng được chăm sóc cẩn thận đã chấm dứt sự xuất hiện của bệnh ốm sữa. 

Cộng đồng Khoa học Y tế Hoa Kỳ đã không chính thức xác thực nguyên nhân gây ra bệnh sữa là tremetol của cây chữa rắn cắn trắng mãi cho đến năm 1928, khi những tiến bộ trong hóa sinh cho phép phân tích độc tố của cây.

How could a disease, perhaps the leading cause of death and disability in the Midwest and Upper South for over two centuries, go unrecognized by the medical profession at large until 1928 ?” — William Snively, “Mystery of the milksick” ( 1967 ).

Tạm dịch:Làm thế nào mà một căn bệnh, có thể là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật ở Trung Tây và Thượng Nam trong hơn 2 thập kỷ, lại không được công nhận bởi ngành y mãi cho đến năm 1928 ?” — William Snively, “Bí ẩn của ốm sữa” ( 1967 ).

Bác sĩ Anna Pierce Hobbs ( 1808 – 1869 ) thuộc Quận Hardin, Illinois, được ghi nhận là người đầu tiên của thế kỷ 21 tìm ra nguyên nhân cụ thể của căn bệnh này vào những năm 1830. Chuyện kể rằng thật tình cờ khi cô được cho biết về đặc tính của cây này và tác dụng của nó đối với con người từ một phụ nữ Shawnee lớn tuổi, người có kiến ​​thức sâu rộng về thảo mộc và các loài thực vật trong khu vực.

Được biết Hobbs đã di trú khi còn là một cô gái đến đất nước Illinois cùng bố mẹ. Cô trở lại Philadelphia, Pennsylvania, để theo học ngành y, các nghiên cứu của cô bao gồm điều dưỡng, hộ sinh và nhổ răng, đó là tất cả những gì mà phụ nữ thời đó có thể học về ngành y. Sau khi trở về miền nam Illinois, cô bắt đầu hành nghề và cũng làm giáo viên. Cô được gọi là Tiến sĩ Anna. Cô sớm kết hôn với Isaac Hobbs, con trai của một người nông dân lân cận. Khi bệnh sữa bùng phát, Anna Hobbs đã nghiên cứu các đặc điểm của bệnh và ghi lại các kết quả trong nhật ký của cô. Hobbs đã xác định rằng bệnh ốm sữa này xảy ra theo mùa, bắt đầu vào mùa hè và tiếp tục cho đến khi mùa sương giá đầu tiên. Cô bắt đầu ghi nhận rằng nó phổ biến hơn ở gia súc so với các động vật khác và nghĩ rằng đó có thể là do một loại thực vật mà gia súc đang ăn.

Truyền miệng kể rằng trong khi theo dõi gia súc để tìm kiếm nguyên nhân, bác sĩ Hobbs đã tình cờ gặp một phụ nữ Shawnee lớn tuổi, người mà cô kết bạn. Trong cuộc trò chuyện giữa họ, người phụ nữ Shawnee nói với cô rằng cây chữa rắn cắn trắng gây bệnh ốm sữa ở người. Lập tức Hobbs đã kiểm tra điều này bằng cách cho một con bê ăn cây và quan sát các đặc tính độc của nó khi con vật chết; so sánh với những con bê sống sót khi cho ăn những cây khác. Với bằng chứng đó, cô đã tập hợp các thành viên trong cộng đồng của mình để tiến hành đào bới và xóa sổ cây này khỏi khu định cư của họ. Mặc dù bác sĩ Hobbs đã học được thông tin có giá trị từ người phụ nữ Shawnee và đã có thời gian nghiên cứu thêm để chứng minh những bằng chứng đó, nhưng cô đã qua đời vào năm 1869, và đã không công nhận chính thức từ cộng đồng y tế vì đã viết về bệnh ốm sữa.

Từ nguyên học

Tên chi Ageratina có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “un-aging – không già hóa”, liên quan đến việc những bông hoa của cây luôn giữ màu của chúng trong suốt một thời gian dài. Tên này đã được Dioscorides sử dụng cho một số loại cây khác nhau. 

Tính ngữ chỉ loài Altissima có nghĩa là “the tallest – cao nhất”, có lẽ để ám chỉ rằng đây là loài cao nhất trong chi của nó. 

Mặc dù độc là vậy, Ageratina altissima vẫn có thể được sử dụng trong mục đích y học. Trà từ rễ của cây đã được sử dụng để điều trị tiêu chảy, sỏi thận và sốt. Thuốc đắp nóng từ rễ có thể được sử dụng để trị rắn cắn.

Back To Top