skip to Main Content
Cây Cải âm – Khi Thực Vật Cũng Biết “tiêu Tiền”

Cây cải âm – khi thực vật cũng biết “tiêu tiền”

Cây cải âm hay cây luna, tiếng anh là honesty ( danh pháp khoa học là Lunaria annua L.; đồng nghĩa Lunaria biennis Moench; Lunaria inodora Lam.) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Cải Brassicaceae có nguồn gốc từ vùng Balkan ( một bán đảo thuộc phía đông nam châu Âu rộng khoảng 550.000 km2 ) và tây nam châu Á, và được du nhập trên khắp các vùng ôn đới. Loài này được L. mô tả khoa học đầu tiên năm 1753. Cây gây chú ý bởi hình dáng quả bề ngoài trông rất giống những đồng tiền bạc.

Hình ảnh cho cây cải âm

Đặc điểm cây cải âm

Cải âm là cây lâu năm hoặc cây hai năm phát triển cao đến 90 cm và rộng tới 30 cm, với lá hình bầu dục lớn, thô, nhọn đầu, mép răng cưa rõ rệt. Lá có lông, với những lá ở phía dưới có cuống dài, còn phía trên thường không có cuống. Vào mùa xuân và mùa hè, cây mang những chùm hoa màu trắng hoặc tím phía đầu cành, tiếp sau đó là quả cải ( silicles ) lộ hạt, màu xanh lá cây khi còn non và chuyển dần sang màu nâu nhạt, mờ, hình đĩa ( nhiều người tưởng nhầm đây là vỏ hạt nhưng thực tế không phải ). Khi một quả cải chín và khô, một van ở mỗi bên của sẽ dễ dàng bung ra, kế đến là hạt rơi ra ngoài khỏi một màng trung tâm có màu ánh bạc, đường kính vào khoảng 3,8 cm; màng này có thể tồn tại trên cây trong suốt mùa đông tùy thuộc vào thời tiết. Những quả cải này được sử dụng nhiều trong bài trí hoa khô ( floral arrangements ).

Hoa màu trắng của Lunaria annua

Từ nguyên học

Tên Latin Lunaria có nghĩa là “moon-shaped – hình mặt trăng” ám chỉ hình dáng và bề ngoài quả cải của loài cây này. Tên phổ biến “honesty” phát sinh vào thế kỷ 16, và cũng có thể liên quan đến sự trong mờ của màng quả. Ở Đông Nam Á, cải âm thường được gọi là “cây tiền” và ở Hoa Kỳ, cây cũng thường được biết đến như “silver dollars – đô la bạc”, ” Chinese money – tiền Trung Quốc” hay “Chinese coins” vì sự tương đồng giữa màng quả cải với những đồng tiền bạc. Vì một lý do tương tự, trong tiếng Pháp, nó được gọi là monnaie du pape ( “Pope’s money – đồng tiền của Giáo hoàng” ). Ở Đan Mạch, nó được biết đến là judaspenge và ở các quốc gia nói tiếng Hà Lan là judaspenning ( cả hai từ này đều có nghĩa là “coins of Judas – đồng tiền của Giu-đa”), ám chỉ câu chuyện trong Kinh Thánh rằng Judas Iscariot ( Giu-đa Ích-ca-ri-ốt ) và ba mươi đồng bạc mà hắn đã được trả cho việc phản bội Đức Chúa Giê xu.

Back To Top